NGỤ NGÔN

Ta bạt mạng kéo theo người bạt mạng

Nên cơn vui thường kéo theo cực hình

Nên tương lai bằn bặt ở lòng mình

Nên bất hạnh ngập đầu ai vô tội

Người mới lớn cửa hồn chưa bám bụi

Vội vàng chi mở rộng cánh tin yêu ?

Biết đâu ta lẩn quẩn một đời, liều

Chuyên đội lốt thánh nhân đi ... lường gạt

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Nghệ Thuật Đen - Thanh Tâm Tuyền


Gọi nghệ thuật đen là thứ nghệ thuật bi đát phẫn nộ, thứ nghệ thuật dục tình suồng sã, thứ nghệ thuật vô luân trắng trợn. Thứ nghệ thuật bị các nhà đạo đức lên án, bị con người văn minh chối nhận, bị những người Mác-xít dè bỉu – những hạng người rất nghịch nhau lại gặp nhau ở điểm này.
Gọi nghệ thuật đen là nghệ thuật bị hắt hủi, một nghệ thuật “mọi” của những tên “mọi” trong xã hội. Nhưng này, tất cả những nhà đạo đức, những người văn minh, những người Mác-xít, hãy nhận lấy một sự thực: “mọi” cũng là người và nghệ thuật của “mọi” cũng là nghệ thuật của người. Và bọn “mọi” ấy cũng muốn được phát biểu ý kiến như các ngài vậy.
Tại sao lại có nghệ thuật đen?
Các nhà đạo đức: Tình trạng suy đồi của tinh thần con người mất đức tin nơi Thượng Đế, mất hết ý niệm Thiện Ác, hoang mang lạc lõng không tìm được ánh sáng chân lý trong cơn khủng hoảng tột độ của một xã hội vật chất.
Người văn minh: Phản ứng ngu muội thoái hoá của bọn người lạc hậu không thích ứng được với cuộc tiến triển của xã hội nhân loại, một khuynh hướng phản động luyến tiếc một thứ tự do ấu trĩ phát động bởi bản năng (gọi người văn minh là người tin tưởng chắc chắn vào lẽ tiến hoá của xã hội mỗi ngày một tốt đẹp hơn trong mọi địa hạt: những nhà xã hội học, triết gia, khoa học, cách mạng chuyên nghiệp v.v… và họ là những người trông thấy tường tận, nắm giữ phần nào cái động lực tiến hoá của xã hội).
Những người Mác-xít: Sản phẩm của xã hội tư sản trụy lạc, dấu hiệu giờ phút lâm chung của xã hội ấy, “ngày mai đang ca hát” dưới ngòi bút của những người góp công với lao động xây dựng xã hội chủ nghĩa, còn bọn này – bọn làm nghệ thuật đen – là bọn người “đào huyệt” chôn mình và chôn luôn cái xã hội thối nát của chúng.
Tóm lại mọi người đồng ý nghệ thuật đen là phản động, phản tiến hoá, phản nhân loại.
Trong sự phân tích tìm hiểu lý do phát sinh nghệ thuật đen, ba hạng người đại diện kể trên chỉ nhìn thấy vấn đề trên bình diện xã hội. Đành rằng nghệ thuật nào cũng chỉ là biểu thức của một xã hội, nhưng nó lại được phát biểu bởi những cá nhân. Bởi thế trên lộ trình dẫn từ xã hội vào cá nhân, không nói đó là một con đường quanh co khúc khuỷu khó dò tìm, thực tế xã hội đã bị chuyển hoá, biến dạng, hơn nữa với sự chủ động của cá nhân (lại không nói đến những nội quy của thế giới nghệ thuật) phản ảnh của xã hội có thể bị mờ nhạt hoặc biệt tích mở ra những chân trời mới trong tác phẩm. Lối giải thích văn chương nghệ thuật bằng xã hội chỉ giữ người ta đứng ở bên ngoài mà la lối hò hét với những thiên kiến và chỉ nạt nộ được những kẻ yếu bóng vía hay vô thức. Ba quan điểm kể trên giải thích và phê phán nghệ thuật đen là ba cấp độ rời xa dần trong sự tìm hiểu nghệ thuật. Nếu chịu đặt câu hỏi như thế này: Tại sao trong một tình trạng xã hội như thế lại sản sinh ra thứ nghệ thuật ấy? Sẽ thấy được điều trình bày như tất yếu, như luật nhân quả rơi vỡ và có một khoảng trống của vực sâu thăm thẳm mà lý luận của người ta đã nhảy vọt lấp liếm.
Nghệ thuật bắt nguồn nơi đời sống biểu diễn của đời sống – hãy mở rộng hai chữ đời sống theo nghĩa thông dụng, đời sống cụ thể, hằng ngày, phức tạp, đừng giản lược vào trong sự vận động của xã hội, hay nghèo nàn hơn nữa trong sự vận động của kinh tế – đồng thời cũng là sự biểu thị của một tự do của một con người giữa đời sống trước xã hội. Muốn hiểu được nghệ thuật, khoan dán nhãn hiệu xã hội cho nó: đó là việc sau của lịch sử (trường hợp của cộng sản thường làm bởi họ có quan niệm lịch sử biện chứng, một quan niệm lịch sử đường thẳng, nên họ dám tin lịch sử ở trong tay họ nhào nặn) bởi cái ý nghĩa xã hội của nghệ thuật cũng chính là ý nghĩa lịch sử của nó; phải bắt đầu tìm hiểu ý nghĩa phát sinh của nghệ thuật, cái ý nghĩa trong tự thân nó, rồi nếu vẫn còn muốn hiểu cái ý nghĩa xã hội của nó thì từ đó suy ra mới may tránh được những sai lầm tai hại vì thiên kiến vu vơ không liên lạc chút nào tới nghệ thuật.
° ° °
Nghệ thuật trước hết là một lối nhận thức đời sống. Nhận thức nào cũng bắt đầu bằng sự chia lìa cần thiết giữa một ý thức và đối tượng của nó. Cấp độ của sự nhận thức cao thấp là tùy theo sự chia lìa ấy sâu xa hay hời hợt. Hằng ngày người ta sinh sống trong một thế giới nhân loại được xếp đặt quy định trong một trật tự được tự nhiên hoá không nghi ngờ không dò hỏi, người ta sống yên ổn thoải mái với những thói quen, tiếp nhận hạnh phúc cũng như sự phiền muộn như những trái cây ngon ngọt hay đắng chát của Tạo Hoá ban cho, nhưng rồi một cơ hội nào đó trật tự kia bị xô lệch bởi những người khác, người ta có thể ngạc nhiên rồi quên đi khi trật tự vãn hồi, người ta có thể hoảng kinh vì không quên được trước cái trật tự giả tạo. Người ta cảm thấy từ đấy sự chia lìa giữa mình với đời sống xung quanh, giữa mình với mình, người ta tự hỏi, người ta cố gắng tìm cách trả lời, người ta hoài nghi. Như một cơn địa chấn – nói theo Nietzsche – con người lúc bấy giờ thấy mặt đất điên đảo dưới chân mình, một mình mình gánh nặng cả đời sống trên hai vai, nỗi hoảng kinh thất thần của chàng Roquentin trong tác phẩm của Sartre lan tràn ra bên ngoài như thế đó, chàng nhìn lọ mực để trên bàn, nhìn bàn tay của mình, cái mặt cái miệng của kẻ khác, cái rễ cây nơi công viên, những sinh vật hết sức tự nhiên đối với mọi người trở nên hãi hùng đối với chàng.
Nghệ thuật đen bắt đầu bằng một ý thức chia lìa ghê gớm đó. Chia lìa ghê gớm thế nghĩa là gì? Đó là một bệnh trạng của trí thức thời nay chăng? Không. Đó là khởi nguyên của ý thức là mầm mống của thay đổi, của sáng tạo. Sự chia lìa ghê gớm kia là điều kiện cho một nhận thức sâu xa hơn về đời sống, rũ bỏ những huyễn ảnh của kẻ bấy lâu ngồi trong hốc đá chỉ nhìn những bóng chiếu in trên vách mà tưởng là sự thật. Triết lý luôn luôn là một sự khởi đầu, kẻ tới sau muốn lật đổ áp lực người thuở trước. Nghệ thuật đối với các tác giả lớn cũng là một sự khởi đầu. Nghệ thuật gần gũi với triết lý ở điểm này. Bởi thế không lấy làm lạ thứ nghệ thuật tầm thường là thứ nghệ thuật không có một nhận thức về đời sống, hay nhận thức đời sống theo những giản đồ được quy định từ trước. Khi Dostoievsky nói người ta chỉ sáng tạo được trong đau khổ, hãy hiểu nỗi đau khổ ấy là sự chia xé tan hoang của một ý thức tận trong phần sâu hút của nó bơ vơ trơ trọi ngoài đời sống muốn trở về gia nhập nhưng không thỏa mãn với trật tự hiện hữu và chưa nhìn thấy cái trật tự tìm kiếm.
Sự khác biệt giữa lối nhận thức nghệ thuật và lối nhận thức triết lý là: lối nhận thức thứ nhất thiên về cụ tượng, cố gắng thâu tóm lấy sự toàn thể của thực tế lúc xuất hiện trong một ý thức khởi nguyên thông suốt – một thứ trực giác, theo ngôn ngữ thông thường -; lối nhận thức thứ hai thiên về quan niệm, cố gắng vượt từ những kinh nghiệm riêng tư đạt tới những ý tưởng chân xác phổ biến nhờ sự can thiệp của lý tính trong ý thức bằng sự sử dụng luận lý. Lối nhận thức của nghệ thuật, so với lối nhận thức triết lý, tất nhiên là mơ hồ hẹp hòi, nhưng lại giữ được tính cách cụ thể mạnh mẽ xúc động, tránh xa sự trừu tượng, cuộc phiêu lưu tách rời khỏi thực tế của một ý thức mãi đuổi theo sự tuyệt đối mà ra khỏi thế giới nhân loại lúc nào không biết. Nhận thức triết lý về đời sống ở một triết gia bao giờ cũng đến sau một nhận thức theo lối nghệ thuật đen ở nơi người ấy, nghĩa là một sự đột khởi xé toang ý thức dìm nó vào một cơn khủng hoảng đảo điên trong một thời khắc đặc biệt nào mà một kinh nghiệm rất nhỏ bé đơn giản hiện lên tóm thâu cả ý nghĩa của một đời một cách chập chờn kỳ lạ, trong bóng tối đến đặc của giao động đã rực rỡ ánh sáng; nhận thức triết lý sau này tới để phân giải để khơi sáng cái nhận thức khởi đầu ấy. Như thế sẽ không ngạc nhiên khi thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của Lão Trang trong nguồn cảm hứng của thi ca xưa – bởi lối nhận thức của hai triết gia này rất gần với lối nhận thức của Sartre là người có “khiếu thực tế” (sens du réel) bởi bên cạnh những tác phẩm triết học công trình xây dựng thuần trí thức, ông thường quay về với lối nhận thức khởi đầu bằng những tác phẩm văn chương.
Vậy nghệ thuật là một lối nhận thức đời sống riêng, có nguồn giống triết lý, những nghệ thuật lớn từ ngàn xưa vẫn phảng phất cái không khí siêu hình là thế. Nhưng từ đây có thể nhìn rõ sự phân ly giữa nghệ thuật đen và nghệ thuật xưa.
Bởi nghệ thuật gần gũi với triết lý, chỉ cần một bước cố gắng của ý thức là có hy vọng tới (nhưng là một bước tự sát của nghệ thuật) nên nghệ thuật xưa có khuynh hướng muốn đồng hoá với triết lý. Phải đặt sang bên hội họa và âm nhạc, những nghệ thuật mà sự đồng hoá với triết lý là điều không thể quan niệm nổi, những người trong hai ngành này có thể có ý thức siêu hình nhưng sự thể hiện qua những chất liệu đặc thù là màu sắc cùng âm thanh đã giới hạn rõ ràng phạm vi của họ; chỉ còn văn chương vì cùng sử dụng ngôn ngữ nên sự tràn lấn giữa hai phạm vi thật dễ dàng. Nhưng ngay trong lĩnh vực văn chương, cái tham vọng của nhà văn muốn đồng hoá văn chương với triết lý bao giờ cũng dẫn tới sự thất bại trên bình diện nghệ thuật – không kể đến thứ vach đồng hoá với luân lý hay với chính trị là thứ phản-văn-chương, bởi nó chẳng mang tới một nhận thức nào về đời sống, nó chỉ minh họa cho một nhận thức đã được quy định giản lược từ trước. Người ta đã chẳng thường trách tư tưởng triết lý của Nguyễn Gia Thiều, của Nguyễn Du là thứ chắp nhặt vá víu gượng ép đó hay sao? Nếu có tìm được ý nghĩa gì về đời sống này qua tác phẩm của những tác giả ấy là ở chỗ khác ngoài ý muốn của tác giả – đây là điểm quan hệ của văn chương của nghệ thuật –: chính là ở chỗ biểu diễn đời sống bằng nghệ thuật, một nhận thức nghệ thuật về đời sống. Giải thích được sự thất bại này là xác định được phạm vi của nghệ thuật, vai trò của người làm nghệ thuật trong đời sống. Chẳng nên để tâm tới sự phê bình vội vã thô tục, bắt nguồn từ một mặc cảm tự tôn nơi các triết gia, là triết lý vốn là phần trí thức cao cả mà bọn nghệ sĩ tầm thường chưa bao giờ đạt tới được, nếu có cố gắng vươn lên may thành mô đất bên những đỉnh non chót vót. Mỗi ngành hoạt động tinh thần của con người đều dựa trên một năng khiếu riêng, phải biết tự đặt mình vào trong phạm vi chuyên môn để nhận định rõ vai trò, trách nhiệm của ngành hoạt động mình trong xã hội loài người. Nếu một người có thể hoạt động cùng một lúc trong nhiều ngành khác nhau, người ấy khi làm phải vạch những biên giới cho từng địa hạt để khỏi xâm lấn sang nhau. Văn chương gần gũi với triết lý, liên hệ với triết lý nhưng chẳng thể đồng hoá với triết lý.
Trước hết người viết văn là người ràng buộc mật thiết với đời sống, một đời sống cụ thể hằng ngày đụng chạm quanh người hắn ngay khi hắn nhìn vào sự vật để tìm lấy cái bản thể hay đạt tới sự vĩnh viễn, cái khuynh hướng của hắn vẫn là phải chụp lấy trong những tình thế nhất định bằng những kinh nghiệm độc nhất; không giống như các triết gia, đối tượng chỉ là khởi điểm không quan trọng, họ tước bỏ tất cả những tính cách vô thường (nghĩa là cụ thể) để đạt cho được yếu tính của sự vật, nghĩa là đặt đời sống vào trong ngoặc, để dễ dàng theo đuổi những ý niệm tuyệt đối vượt ngoài thời gian và không gian. Cái ý nghĩa vĩnh cửu của đời sống trong văn chương, nếu đạt tới, vẫn bị giữ rịt giữa một hiện tại rõ ràng hiển hiện, gọi nó là một hiện tại bất diệt vậy, không bao giờ nó là một thứ tuyệt đối khách quan như cái ý niệm của Platon, của Hegel, hay – Thượng Đế (hoặc sự Siêu hoá) của các nhà hiện sinh Công giáo như Kierkegaard, Jaspers, hay Tự Do (viết hoa) của Sartre.
Sau đó, vì sự tự vẫn trong triết lý – danh từ của Camus – mà nghệ thuật chẳng thể đồng hoá với triết lý. Sự như thế nào hãi hùng đầu tiên nói ở trên, nguồn gốc sáng tạo của nghệ thuật cũng như triết lý, đối với triết gia bao giờ cũng phải chấm dứt, phải tìm sự thăng bằng sáng suốt cho ý thức dẫn họ tới sự giải thích tất cả bằng một hệ thống hay một câu trả lời (những triết gia phi hệ thống). Khi một hệ thống hoàn thành, một câu trả lời được thốt ra là triết gia bị giam luôn trong ấy, hắn chẳng những chỉ đóng cửa với quá khứ mà còn luôn cả với tương lai nữa, cùng với hệ thống hắn bay ra ngoài đời sống ngự ở trên các thư viện đại học uy nghi. Một là hắn tin tưởng một cách hồn nhiên ngây thơ như Hegel là lịch sử đời sống nhân loại sẽ tuần tự thực hiện theo cái quá trình biện chứng của ý niệm tuyệt đối đã tìm thấy chẳng còn điều gì đáng để nói thêm nữa, một là hắn phải nhận như Marx là triết gia cần phải biến cải thế giới nghĩa là dựng xong hệ thống hắn sẽ xuống đường dùng võ lực bạo động cưỡng ép mọi người sống theo hệ thống của hắn. Cả hai thái độ ấy chẳng phải là thái độ của nghệ thuật. Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một sự khởi đầu, một ý thức siêu hình (chữ siêu hình hiểu theo nghĩa thời nay không phải thuộc những địa hạt cao xa tách lìa với đời sống như trong triết học cổ điển, tính cách siêu hình có thể tìm thấy trong mọi hình thái sinh hoạt của con người hằng ngày) trong một khoảnh khắc nhất định, là sự dò hỏi của một tự do đối đầu với cảnh ngộ, chẳng bao giờ ý thức ấy muốn trói mình vào một hệ thống hay một câu trả lời dứt khoát. Người làm nghệ thuật chấp nhận cái thế chông chênh hãi hùng của ý thức sáng tạo không rút mình vào trong sự tự vẫn triết lý, bởi khi tiến tới một hệ thống hay một câu trả lời dứt khoát người ta đã nhắm mắt nhảy vọt qua cái vực mâu thuẫn hun hút trước mặt, quay lưng lại với những câu hỏi thúc bách lúc đầu vẫn còn theo đuổi, chặt đứt liên lạc với thực tế để đặt chân tới mảnh đất của tuyệt đối. Mà tuyệt đối là một ý niệm rỗng tuếch một ảo ảnh lừa dối, nó cho phép người ta giải thích được tất cả và vẫn chẳng giải thích được điều gì ráo.
Nghệ thuật đen chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống.
Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó suồng sã dục tình, nó vô luân trắng trợn. Tại sao vậy?
Đã có một thời nghệ thuật chỉ là ý thức thưởng ngoạn trước đời sống. Người làm nghệ thuật tách mình ra khỏi đời sống để nhìn ngắm nó một cách khách quan tìm lấy cái lý tuyệt đối vượt ngoài tính cách vô thường của vạn vật. Nghệ thuật này thường tìm về gần với tạo vật thiên nhiên vì ở đấy người ta tìm được một trật tự tự nhiên, dẹp được nỗi bàng hoàng của ý thức, thả cho ý thức được thảnh thơi ghi nhận lấy những vẽ Đẹp kín đáo vẫn có sẵn ở quanh mình. Nếu trước thiên nhiên tạo vật nỗi kinh hoàng của ý thức vẫn trỗi dậy, bước thêm bước nữa nghệ thuật này tìm tới tôn giáo, ở đấy những lý lẽ tuyệt đối tạo trong một trật tự đời đời không còn phải hoài nghi nữa. Tóm lại, nghệ thuật thoát từ đời sống cụ thể ra ngoài tự nhiên rồi bay bổng lên trời. Từ cái ngôi cao vút nhìn xuống đời sống – bởi nghệ thuật này vẫn không quên nổi đời sống – nghệ thuật làm hiển hiện cái lý tuyệt đối, tinh lý của đời sống chỉ là phản ảnh của cái thế giới tuyệt đối trên kia mà thôi. Người làm nghệ thuật bấy giờ đứng ở quan điểm Tạo Hoá, từ nhận thức cho đến cách thể hiện. Người ta đặt những quy luật chặt chẽ cho nghệ thuật, tìm ra những ước lệ – những yếu tố lý tưởng vĩnh viễn – mà ở nơi ấy đời sống bị tước bỏ nghèo nàn chỉ còn là một mớ ý niệm ký hiệu xếp đặt theo một khuôn mẫu bất biến. Ở nghệ thuật này, đời sống thường nhật, những sự vật nhỏ nhặt cụ thể, những cá nhân hèn mọn, những con người có xúc cảm có bản năng chỉ là những sinh vật mang theo những ước muốn những khát khao sát trên mặt đất, bị khinh bỉ, bị gạt bỏ. Nếu đôi lúc nghệ thuật có nhìn tới nơi này, là với một lòng xót xa của kẻ bề trên, nghệ thuật này có diễn tả sự xấu xa ghê tởm của xã hội cũng cố tạo những rung động thuần khiết, nhưng rung động có tác dụng đẩy thêm con người xa lìa sự sống hiện hữu, một rung động rất Đẹp. Người làm nghệ thuật không còn là một tự do biểu diễn đời sống, với một nhận thức thành nề néep hoá ra không còn là nhận thức nữa, hắn chỉ còn biết theo đuổi cố gắng đạt tới bằng mọi xảo thuật cái thế giới lý tưởng, thế giới Nghệ Thuật (viết hoa), thế giới Đẹp không dính dáng tới cái kiếp người hèn mạt của chính hắn và của người quanh hắn. Nếu chẳng may trong thời kỳ này, một vài hiện tượng đặc biệt xảy ra: Có những người ngoảnh mặt với cái thế giới tuyệt đối kia để nhìn thẳng vào đời sống đang ngọ nguậy xung quanh da thịt mình, thì thái độ của những kẻ bảo vệ thứ nghệ thuật viết hoa nói trên hoặc là mang con ngáo ộp luân lý ra để nạt nộ hoặc không thể chối cãi được về giá trị của công trình sáng tạo, họ chỉ còn cách kéo nó vào cái thế giới Đẹp của họ và làm ngơ trước cái sự sống ghê tởm (theo ý họ) chứa đựng trong nó. Chưa thấy ai phân tích tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều hay của Nguyễn Du như một nhận thức mới lạ trước đời sống, một ý thức siêu hình trong nghệ thuật của tác giả Cung oán ngâm khúc và tác giả Đoạn trường tân thanh (không phải là triết lý mà các tác giả ấy trình bày một cách minh bạch, cái ý thức siêu hình nằm trong sự nhận thức đời sống khi diễn tả vượt ngoài cả ý định của tác giả). Chưa thấy ai đả động đến cái ý nghĩa của sự thèm muốn nhục dục ghê gớm, được diễn tả bằng những câu thơ nặng những cảm xúc bằng giác quan, sự thái quá của tình ý đưa tới những phẫn uất những tuyệt vọng thê lương trong Cung oán ngâm khúc, tạo cho tác phẩm cái không khí căng thẳng dồn ép đáng sợ, như một ý thức siêu hình nơi Nguyễn Gia Thiều; nếu có nhắc tới một điểm nào ở trên người ta sẽ vội vã giải thích bằng sự lạc lõng trong tinh thần, sự sa đọa đáng được khoan dung (!) của cá nhân tác giả. Với Nguyễn Du cũng vậy, cái nhận thức sâu sắc, khởi từ một ý thức chia xé hãi hùng với kiếp sống, biểu diễn ra một tác phẩm phức tạp như Đoạn trường tân thanh chỉ được người ta nhận định đơn giản là một mối tâm sự bất mãn của Tố Như, một dấu hiệu của sự trụy lạc của đẳng cấp Tố Như, hay vô lễ hơn nữa là một dâm thư hay một công trình Nghệ thuật tinh tuý. Với quan niệm nghệ thuật như thế, người ta hủy diệt hết cái nội dung sống thực của tác phẩm để chỉ giữ lại cái vỏ hình thức rỗng không mỹ lệ một cách trâng tráo thô bỉ.
Cho nên cũng chẳng thèm phiền trách những người khư khư với quan niệm nghệ thuật kia khi họ lên tiếng phê bình phán đoán nghệ thuật đen, chỉ muốn nói giúp họ nhận định lại một hiện tượng của thời đại bằng cặp mắt rộng rãi đứng đắn hơn, tránh những thiên lệch thiển cận dẫn họ tới cái thế bảo thủ vô ý thức một cách đáng ghét.
Cái tính chất đen đầu tiên của nghệ thuật hiện nay là sự bi đát đến phẫn nộ ít thấy ngày trước. Đừng giải thích vội vàng bằng sự bệnh hoạn của cá nhân, cũng không hẳn hoàn toàn là một tâm trạng của thời đại. Cũng đừng vội chê trách nghệ thuật đen là thứ chỉ đưa ra sự bế tắc, một thứ thuốc độc giết mòn tinh thần của người đọc. Khi nghệ thuật đen nhất định trói mình vào trong đời sống thực, nhất định trung thành với cái ý thức siêu hình phát động nguồn sáng tạo; không chịu dấn thân vào cuộc phiêu lưu thuần lý để đi tới chốn tự sát trong triết lý, nhận thức trực tiếp toàn diện một cảnh ngộ cụ thể bằng ý thức khởi đầu ấy, tất nhiên đối với những người vẫn quen tìm ở nơi nghệ thuật sự biểu diễn một trật tự sẵn có hay tìm thấy, một lời giải đáp minh bạch – nói theo tiếng thông dụng trong giới văn nghệ ngày nay: một lối thoát, tính cách xây dựng lành mạnh của nghệ thuật – thì nghệ thuật đen là bi quan lạc lõng. Nhưng nếu người ta chịu hiểu sâu xa hơn một chút rằng nhận thức nào cũng là một sự khẳng định và trong sự khẳng định đã giúp cho con người tìm lấy những phương tiện thích ứng để hoạt động trong thế giới sự vật – ngay sự nhận thức một tình thế tuyệt vọng qua tác phẩm cũng là sự khẳng định đối đầu với thực tế phũ phàng đòi tìm cách ứng phó, không trốn chạy bằng những ngõ ngách quắt quéo của cái thói tự gạt mình vô ích. Sở dĩ nghệ thuật đen không đưa lại một lời giải đáp thì chỉ có tính cách cá nhân của tác giả, là một trong rất nhiều lời giải đáp khác nhau, không thể tìm tính cách chung bởi như thế phản nghệ thuật. Nói rõ: nghệ thuật đen đứng lại là một lời kêu gọi, ý thức siêu hình sáng tạo của nó cố gắng đạt đến một nhận thức càng rộng rãi đầy đủ bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, phô bày qua tác phẩm những thực kiện phức tạp cho thật cụ thể chân xác, nỗ lực trong nhận thức triệt để về một cảnh ngộ là đã mở ra những tầm chân trời để tùy sự lựa chọn từng cá nhân đường lối thích hợp cho riêng mình giải phóng mình khỏi cảnh ngộ. Đối với xã hội, nghệ thuật đen giữ vai trò là một ý thức dò hỏi phát hiện những vấn đề có liên quan đến kiếp sống con người, một ý thức siêu hình luôn luôn thức tỉnh hoạt động trong phạm vi của nó, không có tham vọng giải quyết. Giải quyết thuộc phần vụ của các ngành hoạt động khác trong xã hội nhân loại, nói cho đúng là công trình của cả một xã hội trong sự vận dụng hết mọi khả năng của xã hội ấy. Làm sao lại bắt người làm nghệ thuật, một cá nhân chỉ có năng khiếu dễ gần gũi gắn liền với thực tế xã hội trong một đời sống văn minh phát triển ghê gớm về mọi mặt như ngày nay phải có được sự hiểu biết thông thái về mọi ngành để đúc kết tiên đoán về tương lai, phải làm một việc vượt ngoài khả năng của hắn? Người làm nghệ thuật hôm nay rất khiêm nhượng không muốn khoác cái bộ dạng lố bịch của một người thầy đời bằng những câu giải đáp nông cạn lý tưởng vô ích và hào nhoáng chỉ lòe được đám học sinh hay bọn trí thức một dúm; hắn biết rõ hắn chỉ là một cá nhân hèn mọn, cái kiến thức chuyên môn về các địa hạt tinh thần khác, nếu có, chỉ là một mớ kiến thức phổ thông sở đẳng so với những bậc thức giả mỗi ngành, trước mắt các bậc ấy những câu giải đáp của hắn chỉ là một trò múa rối của kẻ tự kiêu ngu ngốc, hắn tự định rõ vị trí của hắn trong hoạt động tinh thần nhân loại là tận dụng hết năng khiếu thực tế của mình để biểu diễn cái đời sống tầm thường hiện thực hằng ngày nơi ấy vẫn ẩn nấp trong mỗi thời khắc những vấn đề siêu hình (vẫn hiểu theo nghĩa rộng) mà ngày nay ảnh hưởng tới từng khía cạnh vụn vặt nhất của cuộc sinh hoạt. Nghệ thuật đen là ý thức siêu hình của xã hội, có thể là thô sơ, nhưng chắc chắn là thực tế nhất.
Người làm nghệ thuật khi muốn vượt cái tính cách đen ấy của nghệ thuật là bước xa nghệ thuật, là thất bại trông thấy. Trường hợp của nhà văn quá cố Camus là một. Những tác phẩm đầu tiên của nhà văn này là những lời kêu gọi thống thiết một nhận định mới về cảnh ngộ sống của con người trước thời đại này là những tác phẩm giá trị. Nhưng khi ông biến sự phi lý của một cảnh ngộ có thực là con người trong xã hội Âu châu khủng hoảng, nhất là con người trí thức, thành sự phi lý của kiếp sống người đời, để rồi ông chọn lấy cái thế thăng bằng rất chông chênh của một kẻ Juste, đóng vai trò một nhà văn luân lý, làm nghèo nàn hẳn những tác phẩm về sau của ông. Từ La Peste đến La Chute nghệ thuật của Camus giản lược dần chỉ còn là kỹ thuật văn chương trau chuốt, đời sống thu hẹp vào trong cái ý niệm trừu tượng quen thuộc ở ông – cái kỹ thuật của La Chute cũng tố cáo sự tù túng của Camus trong một chuỗi độc thoại mà chủ đề được trình bày sáng sủa đơn giản mạch lạc như một tác phẩm luận thuyết – La Chute là sự khai triển cực độ của nghệ thuật Camus, thành công nhất nhưng cũng là dấu hiệu của sự tận cùng. Nhận thức về sự phi lý cụ thể của xã hội Âu châu trong cơn khủng hoảng đã khởi từ Malraux 1, nhưng Malraux không hề đẩy đưa nó tới thành triết lý. Sự phi lý của kiếp người qua nhận thức của Camus chính là ở những người đòi hỏi sự tuyệt đối mà vẫn biết không đạt tới được đành quay trở về đời sống làm công việc vác đá leo núi của Sisyphe, “phải tưởng tượng rằng Sisyphe sung sướng” câu kết thúc tác phẩm luận thuyết về sự phi lý của ông thật là chua chát. Sự thực cuộc đời tự nó không phi lý, chỉ có những cảnh ngộ con người phải chịu đựng trong những thời điểm nào đó phi lý mà thôi. Đúng như Camus đã thú nhận sở dĩ có sự phi lý là ở nơi con người nhiều hơn ngoại vật, sự phi lý mà Camus mang trùm lên cho kiếp người vĩnh viễn chỉ có ở những người như Camus đã mất huyễn ảnh của tuyệt đối nhưng vẫn không ngừng luyến tiếc nó, sống giữa đời vẫn bị nó ám ảnh khiến cho thấy mọi việc làm ở đời đều vô ích luống công. Không muốn tự sát trong tư tưởng giống như những triết gia khác ở Tây phương tìm lối trở về với Tuyệt Đối do chính mình phóng tưởng, không phải là Thượng Đế cụ thể của tôn giáo, nhưng cũng không có can đảm dứt bỏ tuyệt đối trở về hẳn với đời sống thế tục, Camus đã chọn một bình diện trung gian giữa thế tục và Thiên Đường đã mất, đứng làm một kẻ Juste ở lưng chừng trời cảm thông vào việc đời biết là chẳng đi đến đâu mà vẫn hành động, hành động để nhắc nhở đến một thế giới tuyệt đối mà chính Camus biết rõ là không thể có, sự phi lý nằm sỗ sàng trong thái độ của Camus đó vậy. Đứng ở bình diện trung gian – làm gạch nối giữa tuyệt đối hư vô và cuộc đời hiện thực – tất nhiên sẽ nhìn thấy kiếp người vĩnh viễn chỉ là một chuỗi hành động vô nghĩa; những kẻ tìm được cái thế giới tuyệt đối cho họ cũng không nhìn đời phi lý như thế, từ trên cao ấy họ có thể trông thấy cái ý nghĩa của kiếp sống qua những phản ảnh của tuyệt đối ở nơi ấy. Khi đã chối nhận tuyệt đối, không thèm luyến tiếc bởi đã biết nó không có và chẳng bao giờ có, sống trong những cảnh ngộ hiện thực thì ý nghĩa của mỗi hành động tương quan với một cảnh ngộ trong sự giải phóng ra ngoài cảnh ngộ, giá trị của hành động không quy định bởi cái mù mịt của trống không. Người ta chẳng quyết định được tương lai để chứng thực hành động nhưng cũng chẳng phải người ta không có tương lai, tương lai sẽ đến bằng hành động của mình cùng với mọi kẻ khác và hành động ngoài ý nghĩa quy định bởi cảnh ngộ hiện thời còn có một ý nghĩa quy định bởi tương lai đã thành hình, quy định bởi kẻ khác, có thể là ngoài ý hướng của mình: ý nghĩa thứ nhất là ý nghĩa xã hội của hành động; ý nghĩa thứ hai là ý nghĩa lịch sử vậy. Camus thường thanh minh rằng ông không phải là một triết gia, đúng. Ông là một nhà văn luân lý kiểu Tây phương đó vậy, cho nên có gọi ông là nhà văn cổ điển ở thế kỷ XX cũng không phải là quá. Khi ông viết L’homme révolté, thuật lại cuộc phiêu lưu ý thức của ông cũng là lúc chấm dứt cuộc phiêu lưu ấy, những tác phẩm sau không mang thêm nhận thức nào mới lạ, chỉ củng cố cho một địa vị đã vững vàng trong các tủ sách của các bậc trí thức muốn học đòi theo ông, của các thư viện đại học rất bảo thủ, đưa ông tới diẽn đàn Hàn lâm viện Thụy Điển nhận lấy vòng hào quang trao tặng đứa con hoang đàng trở về ngoan ngoãn dưới mái nhà đã có lần nó vùng vằng bất mãn bỏ đi. Cái chết bất ngờ nhốt luôn Cmus vào quá khứ.
Bởi nghệ thuật đen khởi đi từ một ý thức siêu hình bắt nguồn từ kiếp sống hiện hữu và chỉ là một nhận thức mở ngỏ kết cấu nên sau quá trình của một ý thức dò hỏi hết nghĩa một cảnh ngộ, và chẳng vội chịu tiến tới một kết luận nào nên nó bi đát. Và phẫn nộ. Phẫn nộ với chính nó. Nhưng nó không thể tự thỏa thuận, tự làm yên lòng bằng cách kết thúc sự dò hỏi bướng bỉnh bằng lời giải đáp dứt khoát, bởi như thế nó đã rời xa đời sống, bởi như thế nó đã vượt quá giới hạn của nó, bởi như thế nó đã đánh lừa nó đóng một vai trò không phải của mình, bởi như thế nó đã tự vẫn nó.
Sự bi đát phẫn nộ hiển hiện trong cái ý thức siêu hình phiêu lưu không ngừng nghỉ của nghệ thuật đen vì quá ràng buộc với sự vận động thường trực của cõi thế phải chăng là dấu hiệu của sự suy đồi bạc nhược của tinh thần ở một cá nhân cũng như xã hội? Cớ sao không nhận định trái ngược lại, đó là dấu hiệu sự cường tráng đặc biệt của tinh thần khiến cho ý thức không biết mệt mỏi chán ngán tìm nơi ẩn trú ngơi nghỉ ở cõi tuyệt đối? Đối với xã hội, cái ý thức dò hỏi bướng bỉnh, chối nhận những giá trị đã lập thành, cớ sao không thấy đó là sự cố gắng mãnh liệt của con người tìm đường thoát thân trong cuộc đảo lộn toàn diện của một thời đại mà các giá trị cần được xét định lại, khởi đầu bằng những nhận thức mở ngỏ dũng cảm một giai đoạn phát triển hoá kiếp của xã hội. Nghệ thuật đen chỉ đóng vai trò cất lên lời kêu gọi, cuộc giải quyết là công trình của xã hội của lịch sử, thành hay bại không tính trước được, cho nên cũng có thể nó trở thành một sản phẩm của một xã hội mạt kiếp, nhưng cũng có thể nó là sự giác ngộ thúc đẩy trong công cuộc lột xác của một xã hội. Đó là một vấn đề thuộc lịch sử mà nghệ thuật đen tự nó không giải quyết cho nó được.
Nghệ thuật đen là một ý thức siêu hình về đời sống thế tục, ý thức ấy có những nguồn mạch chằng chịt hút xuống trái đất. Nghệ thuật lý tưởng của một thời – là ý thức thưởng ngoạn bay bổng ngoài cõi tục – đã loại trừ ra khỏi nó cái đời sống mà nó cho là ô trọc, cụ thể, “vật chất”. Trong nghệ thuật này người ta khinh bỉ sợ hãi cái “xác thịt”, những “thực phẩm của địa cầu”, tất cả những gì còn mang nặng cái chất của một sự sống hữu hình, e rằng những thứ ấy là những vật nặng cản trở sự tinh tuý của ý thức đang muốn bay bổng lên cõi hư không. Bởi thế những quy luật chặt chẽ, những ước lệ kiểu mẫu trong phép thể hiện của nghệ thuật lý tưởng là những màng lọc cái chất sống tầm thường đến ghê tởm bám ý thức không cho lọt vào, tính cách nghiệt ngã của hình thức chỉ bằng lòng cho phép nhập nội cái phần tinh tuý của ý thức đã bị tước lược hết hình hài còn lại là những ý niệm.
Nhận thức, nhất là nhận thức bằng nghệ thuật, không phải là công trình của một năng khiếu thuần lý. Không có ý thức nói trống không bay lượn trong không không, nói ý thức là nói ý thức của một người, người bằng xương bằng thịt với những điều kiện sinh hoạt trong xã hội trong lịch sử và trong cảnh ngộ. Ý thức phát động để cấu thành nhận thức tiếp xúc ngoại vật không độc nhất bằng đường lối tư duy; bởi ý thức của một người chính là người ấy với mắt mũi chân tay đầu tóc cho nên một người có thể ý thức và nhận thức, một cách mù tối nhưng cụ thể nguyên vẹn hơn, bằng da thịt bằng cảm xúc giác quan. Nghệ thuật đen chuộng sự cụ thể, trong phép thể hiện của nó thường dùng lối nhận thức thô sơ này bởi ở đấy ngoại vật còn giữ được nguyên hình thể, tính chất của nó. Do đó trong nghệ thuật đen dẫy đầy những xúc cảm đứng lại ở giác quan còn thô kệch xù xì khó chịu, ý thức “thuần tuý” băng hoại bám vào mở rộng ngoài da thịt thành một thứ dục tình 2 suồng sã. Sở dĩ sự nhận thức về cảnh ngộ tuyệt vọng của người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc trở nên mãnh liệt ghê gớm khiến nàng phải thốt kêu những tiếng phản kháng đớn đau bởi tác giả đã trói buộc nhân vật của mình vào trong cái “xác thịt” của nó để cho nó không thoát lên được mà tìm những mối an ủi hứa hẹn lừa dối của “tinh thần” của lý trí để rồi phải chết dần mòn trong cảnh ngộ vẫn còn khư khư ôm lấy huyễn ảnh được giải phóng, cách thể hiện đầy xúc cảm trần tục nhầy nhụa trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều phát hiện hết cái thân phận cung nữ. Nghệ thuật Nguyễn Gia Thiều là nghệ thuật đen vậy. Xin nhường công việc phân tích tìm hiểu cái nhận thức siêu hình của Nguyễn Gia Thiều về kiếp sống qua sự thể hiện bằng thân phận của nhân vật cung nữ, bằng tác phẩm của ông cho các nhà phê bình văn học. Cái nhận thức của Nguyễn Gia Thiều tất nhiên là cấu thành bởi cái ý thức dò hỏi của ông trong cảnh ngộ sống, là thời Lê Mạt của thế kỷ XVIII.
Dục tình trong nghệ thuật đen là một phương cách của nhận thức siêu hình, hiển nhiên không phải là phương cách độc nhất. Nếu nghệ thuật đen có thường dùng đến luôn chỉ bởi phương cách ấy từ xưa vẫn bị nghiêm cấm khinh rẻ, dục tình trong nghệ thuật ở xứ ta là một khu đất hoang chưa được khai thác trong khi thật sự nơi ấy, cũng nh ưở những hình thái sinh hoạt nhân loại khác, tiềm ẩn cái ý nghĩa siêu hình của kiếp sống mà nhận thức nghệ thuật có thể phơi mở. Không tuyệt đối tin theo Freud rằng cuộc sinh hoạt nhân loại bị quy định thầm kín bởi dục tình bởi bản năng – sự sai lầm hư hỏng của Freud là muốn biến khoa tâm phân bệnh học của ông thành một triết lý toàn diện giải thích tất cả – nhưng cũng không thể chối rằng bản năng, dục tình không giữ vai trò gì đáng kể trong cuộc sinh hoạt nhân loại. Nghệ thuật đen không ngoảnh mặt với đời sống, đối diện với nó trong mọi mặt xuất hiện để theo đuổi dò hỏi ý nghĩa của nó. Hơn nữa, dục tình lại là điểm phát khởi của đời sống nhân loại lúc sơ khai và còn dự phần mãi mãi trong đời sống ấy, trong nó có chứa đựng cái ý nghĩa siêu hình thiết thực của thế tục. Không nhận thức nào cụ thể mạnh mẽ hơn về sự sầu khổ hay hân hoan bằng sự sầu khổ, hân hoan hiển hiện trong da thịt của một người, người ta không còn thể chối cãi rằng đó chỉ là tưởng tượng. Đáng thương cho những kẻ mà sự nhận thức mới nằm trong địa hạt của lý tính trong con người, nó làm cho họ trở thành kẻ lạ mặt giữa cuộc sống, kẻ lạ mặt trong chính thân xác họ. Đối với một vài cảnh ngộ, dục tình còn có thể và sự yêu mến tất cả. Trong dục tình người ta yêu cái chết cùng một lúc với sự sống. Nói như Sartre, “dục tình ném con người vào trong lòng sôi sục của tự nhiên và đồng thời nâng nó vượt khỏi tự nhiên do sự khẳng định cái quyền hạn của nó không được thỏa mãn” 3.
Chính từ khởi điểm nghệ thuật đen cố gắng là một nhận thức sâu xa linh động về sự vật, vượt ngoài những khuôn sáo tĩnh chết đã bị thực tế chối bỏ, nên nó chấp nhận dục tình xưa nay bị nghiêm cấm làm phương tiện trong công cuộc theo đuổi khám phá ý nghĩa của sự vật. Và vì thế nó hiện ra trước mắt những người mà nhận thức được chết dí ở một nơi là thứ nghệ thuật vô luân trắng trợn. Trong xã hội, cái đồn lũy luân lý bao giờ cũng là nơi phòng vệ cuối cùng của khuynh hướng bảo thủ trốn tránh sự tấn công của những lực lượng cấp tiến đòi thay đổi, riêng trong xã hội cộng sản cái đồn phòng vệ ấy còn kiên cố hơn nữa gồm cả một hệ thống giáo điều của chủ nghĩa. Không muốn nhắc lại rằng nhận thức nghệ thuật khởi đi từ sự cảm nhận mạnh mẽ một cảnh ngộ có thực, mà những tiêu chuẩn của luân lý có tính cách khái quát và lý tưởng chỉ là chướng ngại cho nhận thức nghệ thuật chân thực. Đối với luân lý của một xã hội, nghệ thuật đen không phải tất yếu là phải nhắm vào đấy để công phá, cái ý hướng ấy cũng đã thu hẹp một phần nào nhận thức, nó chỉ gạt sang bên len lỏi không đếm xỉa tới khi nhận thức. Rất có thể đôi khi nghệ thuật đen phù hợp với một nền luân lý nào đó thì không phải là nó có dụng ý thuyết minh cho nền luân lý ấy mà chính nền luân lý kia đã tìm được ở nó cái ý nghĩa, cái lý do tồn tại của mình; và thường khi nó phản nghịch lại luân lý xã hội, đó không phải là nó vô luân mà chính bởi luân lý xã hội đã bắt đầu mất ý nghĩa, thiếu lý do tồn tại. Bởi một nền luân lý chỉ là một kiến trúc những quy ước tinh thần trên một trật tự lý tưởng để bảo vệ cho trật tự ấy. Khi cái trật tự lý tưởng con người dựng lên trước mặt để noi theo không còn thích ứng với những cảnh ngộ nó sống thì luân lý mất ý nghĩa ban đầu là con đường sáng cho nó noi theo chỉ còn là một nhà giam chật hẹp giết mòn đời sống của nó một cách vô nhân đạo. Cái ý thức siêu hình phát khởi nghệ thuật đen không kèm theo một ý thức luân lý để giới hạn nó lại trong sự thâu tóm ghi nhận cảnh ngộ, bởi cái ý thức trên có thể là khởi điểm cho một ý thức luân lý mới, nhưng nghệ thuật đen không muốn tiến tới đó. Sự sử dụng luân lý trên những đòi hỏi mới của con người là công việc của nhà luân lý học. Riêng đối với người tiếp thu nghệ thuật, nghệ thuật đen mở rộng tầm chân trời để tùy cá nhân nhận định lấy trong phần cá biệt của mình cái luân lý của một cảnh ngộ nhất định – sự thực vấn đề này chỉ là một phần trong vấn đề nhận thức mà không tiến đến kết luận của nghệ thuật đen đã nói đến ở trên. Vậy nghệ thuật đen là biểu thị một tự do trước cảnh ngộ, kêu gọi những tự do khác trong cuộc gặp gỡ xúc tiếp. Có thể bảo nghệ thuật đen là phi luân lý thì đúng.
Nói kết lại nghệ thuật đen đóng vai trò khích động sự thức tỉnh của xã hội trước những câu hỏi cụ thể thúc bách thế tục, ném sự dò hỏi trâng tráo vào giữa mắt mọi người vẫn ngủ mê trong sự tin tưởng vu vơ trừu tượng ở cõi tuyệt vời càng ngày càng mất hút, kêu gọi mọi người trông thẳng vào cảnh ngộ đang sống, vận động trước hết cho một ý thức dũng cảm táo bạo nhận thức cho đầy đủ thực tế.
Và sau đó chiều hướng của lịch sử, ý nghĩa của một kiếp sống tìm thấy vươn tới, là thuộc về mọi người định đoạt thực hiện.
Gọi nghệ thuật đen không phải vì những ý nghĩa suy đồi lầm lạc người ta gán cho nó. Gọi nghệ thuật đen bởi liên tưởng tới một màu da của nhân loại, màu da đen. Đen có thể là một màu đẹp như đêm tối trong suốt vô cùng, như tròng mắt của người thiếu nữ Á Đông. Nhưng hiện thời đen tiêu biểu hết nghĩa cho một cảnh ngộ trong ấy con người chịu đựng sức nặng đè ép của sự vật, của một trật tự mấy nghìn đời.
“Cớ sao tôi xanh, tôi sầu và tôi đen thế này?”. Hãy nghe tiếng kêu ấy của chàng nhạc sĩ da đen, hãy nghe những âm thanh đổ vỡ lổng chổng hay mệt mỏi thê thiết của chàng như hình ảnh của một thế giới dục tình bi đát.
Danh từ nghệ thuật đen được tạo thành từ hình ảnh một màu da lại luôn luôn là thân phận của người, một thân phận mọi. Bởi thế nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay vậy.
--------------------------------
1. Xem Malraux par lui-même của Picon hay La Tenlation de l’Occident của Malraux.
2. Chữ dục tình hiểu theo nghĩa rộng như chữ Désir của tiếng Pháp.
3. …Du désir qui (…) replonge Phomme au sein bouillonnant la Nature et l’élève en même temps au-dessus de la Nature par l’afirmation de son Droit à l’insatista
ction (Situations, trang 255).
BÀI NGỢI CA TÌNH YÊU
1.
Tôi chờ đợi
lớn lên cùng giông bão
hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai
tìm cánh tay nước biển
con ngựa buồn
lửa trốn con ngươi

Đất nước có một lần
tôi ghì đau đớn trong thân thể
những giòng sông những đường cầy núi nhọn
những biệt ly rạn nức lòng đường
hút chặt mười ngón tay ngón chân da thịt
như người yêu từ chối vùng vằng

Tôi chờ đợi
cười lên sặc sỡ
la qua mái ngói
thành phố ruộng đồng
bấu lấy tim tôi
thành nhịp thở
ngõ cụt đường làng cỏ hoa cống rãnh
cây già đá sỏi bùn nước mặn nồng
chảy máu
tiếng kêu

2.
Tôi chờ đợi
phổi đầy lửa cháy
môi đầy thẹn thùng
vục xuống nhục nhằn tổ quốc
nhìn gót giầy miệng uống tro than
nghe tiếng ca của một người không quen
của cuộc đời tình nhân

3.
Trang sách khởi đầu viết
mắt người cần ánh sáng
môi người cần mặt trăng
bàn tay đòi mặt trời
và ngực em tự do
của anh của anh tất cả

Em gối đầu sương xuống
chuyện trò bằng bóng hình

Tôi đẹp như hình tôi
như cuộc đời
như mọi người
như chút thôi
anh yêu lấy em

Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát
sớm mai khuya thức nhiều nhớ thương
em là cánh hoa là sương khói
đêm màu hồng

Vòng tay dĩ vãng và bát ngát
chỗ yên nghỉ cuối cùng
dưới mắt sao dưới bàn chân những đứa con

4.
Tôi chờ đợi
một người không
nhiều người
ở thành phố thiếu thốn
ở làng mạc đọa đầy
tôi là tiếng nói là tiếng khóc
những người bỏ đi hẹn trở về
những người mím hơi thừa chịu đựng
tôi chờ đợi
tôi là tiếng thơ là tiếng cười
mai Việt Nam hỡi mai Việt Nam

*
 
BÀI THƠ CỦA THÁNG GIÊNG

Con đường chưa ai tới
Màu hoa nào chưa ai trao nhau
Những chữ nghĩa còn hoang
Câu thề thốt lạ thường
Nơi không gian còn tuyết trinh

Lửa ấm cho lời nói
Những đêm sao ở mắt nhìn
Bắt đầu từ trao tặng
Bắt đầu từ một lần hò hẹn
Cách nắm tay nghẹn ngào
Ngón tay âm thầm trò chuyện
Những bước chân thỏ rừng
Chạy trên cỏ sắc
Sợi tóc đen như một chuỗi cười
Trên chúm môi lá biếc
Những chòm hôn vội vàng
Làm những vì sao đổi ngôi
Anh muốn làm mới tình yêu

Thuở nhớ nhung chất ngất
Tưởng khoảng đường liên hành tinh
Giữa phố đông đón đợi
Những ước mơ hiền đi cùng mọi người
Trong vòng tay ôm xiết
Ý nghĩa những ước mơ
Những ảnh hình nghĩ chết

Anh phải làm mới tình yêu
Như sửa sang nhà cửa
Như xây dựng thành phố
Như vun bón ruộng vườn
Như nhìn vào vũ trụ
Khi thế giới vừa dựng
Sẽ mời mọc tình nhân
Khi mặt trời vừa thức
Đòi gặp mùa xuân
Cho làn mi lá ngủ
Cho khóe mắt biển sâu
Cho đồi hoa bát ngát
Bài thơ tình đã bỏ
Ngôn ngữ thiên nhiên của mọi tình duyên là một
Phải làm mới tình yêu
Coi chúng ta là những người thứ nhứt
Trên trái đất này biết yêu nhau
Để những cặp tình nhân khác bắt chước
Để con cái sau này không khổ đau.

Thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch..

 
Ta làm và nói sai, nhưng ta lại được nhiều người khen ngợi mỗi ngày, như vậy mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa đời sống của ta đi dần vào bóng đêm và từ bóng đêm này dẫn ta đi tới bóng đêm khác.


Ta làm đúng và nói đúng, nhưng ta lại bị nhiều người chỉ trích mỗi ngày, và như vậy mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa ta từ bóng đêm bước ra ánh sáng và từ ánh sáng này, ta bước tới ánh sáng khác.


Chân lý không thuộc về sự khen ngợi hay chỉ trích, mà thuộc về ở nơi người nào thấy và biết đúng, nghe và cảm nhận đúng, sống đúng, nói và làm đúng.

Lằn mức giữa đúng và sai thật vô cùng vi tế và thẳm sâu, nên có những suy nghĩ, có những việc làm của ta, ở độ tuổi nầy thì đúng, mà bước qua độ tuổi khác lại là sai; ở buổi sáng thì đúng, mà ở buổi chiều thì sai; ở phút trước thì đúng, mà ở phút sau thì sai; đối với hoàn cảnh nầy thì đúng, nhưng ở hoàn cảnh khác thì sai; đối với người nầy thì đúng, mà đối với người khác thì sai, và cùng một vấn đề, mà ta nhìn nó từ góc độ nầy, thì nó đúng, nhưng ta nhìn nó với một góc độ khác thì sai.

Nên, đúng và sai là tùy theo mức độ hiểu biết của ta, liên hệ đến ô nhiễm hay thanh tịnh, sâu hay cạn, rộng hay hẹp của tâm ta.

Hễ tâm ta càng ít ô nhiễm và càng ít bị xáo động, thì cái biết của ta đi dần tới với cái đúng và ta có thể thường trú ở trong cái đúng. Hễ tâm ta bị ô nhiễm và xáo động, thì cái biết của ta càng lúc càng đi dần tới với cái sai lầm và ta có thể cộng trú thường trực với cái sai lầm ấy.

Ta thấy đúng và biết đúng đối với mọi sự hiện hữu, là do tâm ta yên lắng, không bị xáo động bởi các vọng tưởng, hoàn toàn không bị lay động và thụ động bởi các ngã tưởng và các dục. Ta sống với tâm như vậy, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng không bị hoàn cảnh sai sử và không bị các hình tướng đánh lừa. Ta nghe với tâm yên lắng, không bị xáo động bởi các tưởng, thì ở đâu và lúc nào, ta cũng có sự tự do đối với cái nghe và ta không bị mọi ngôn ngữ và âm thanh đánh lừa. Ta cảm nhận từ mọi sự xúc chạm với tâm yên lắng và không bị xáo động đối với các vọng tưởng, thì sự cảm nhận của ta là sự cảm nhận đúng, nên lúc nào và ở đâu, ta cũng không bị các cảm giác và tri giác đánh lừa.

Ta nuôi dưỡng đời sống bằng tâm yên lắng và không bị xáo động, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng có tự chủ, không bị các loại ăn mặc và các thực phẩm ăn uống đánh lừa. Ta nuôi dưỡng đời sống bằng tâm chân thực, bằng sự hiểu biết sáng trong, bằng những hành động và những lời nói đúng đắn, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng có đảm lực để sống, ta không bị thời gian khuất lấp, không bị những sự sợ hãi chi phối và không bị những sự hư dối đánh lừa.

Ta làm đúng, thì nhân quả đến với ta đúng như những gì ta đã làm. Ta làm sai, thì nhân quả cũng đến với ta đúng như những gì ta đã làm sai.

Ta muốn ăn cam, ta trồng cam, hội đủ nhân duyên, cam sẽ cho ta trái ngọt. Ta muốn ăn cam mà gieo hạt quýt, hội đủ nhân duyên, quýt sẽ ra trái cho ta mà không phải là cam.

Như vậy, ta thấy đúng, biết đúng và làm đúng, thì nhân quả đúng tự đến với ta. Ta thấy biết sai và làm sai, thì nhân quả đúng như với cái sai cũng tự đến với chúng ta.

Ta muốn ăn cam mà lại trồng quýt và chăm sóc quýt, hội đủ nhân duyên, thì ta chỉ có thành quả của quýt mà không phải là thành quả của cam, như vậy ta bị rơi vào tình trạng khổ đau là do ta mơ ước mà không thành.

Mơ ước không thành là do tâm ta, mà không phải do nhân quả hay do cuộc đời. Cuộc đời của ta chính là tâm ta và nhân duyên, nhân quả của cuộc đời ta là tùy thuộc vào tâm ta mà biểu hiện. Không có nhân duyên và nhân quả nào tách rời khỏi tâm ta mà hình thành và biểu hiện cả. Tâm ta chính là nguồn gốc cho nhân duyên, nhân quả của cuộc đời ta hình thành và biểu hiện.

Do ta không nhận biết cụ thể và chính xác nhân duyên, nhân quả giữa những hạt giống cam và quýt; do ta không biết phương pháp để chăm sóc; và do ta không biết thời vụ và chất đất để gieo trồng, nên ta mong muốn một đường, mà kết quả đến với ta một nẻo.

Không có nhân duyên, nhân quả nào, khi ta gieo hạt giống cam mà quả lại cho ta là quýt và cũng không có nhân duyên, nhân quả nào, ta gieo hạt giống quýt mà quả lại cho ta là cam.

Cũng vậy, không có thành quả của an lạc và hạnh phúc nào đến với người tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Và cũng không có thành quả khổ đau và thất vọng nào đến với người tâm nghĩ thiện, miệng nói thiện và thân hành thiện.

Nếu vì bản thân ta, mà nghĩ đến điều thiện, miệng nói điều thiện và nỗ lực làm việc thiện, thì thiện ấy chưa phải là thiện của thiện, nên an lạc đến với ta rất ít, mà khổ đau và thất vọng đến với ta rất nhiều.
Vì vậy, ta không ngạc nhiên gì, ở giữa đời đã có nhiều người tự cho mình là hành thiện, nhưng trong đời sống của họ chỉ sinh ra những trái đắng và khổ đau.

Nếu không vì bản thân ta mà tâm nghĩ đến điều thiện, miệng nói điều thiện và nỗ lực làm thiện mỗi ngày, thì thiện ấy mới đích thực là thiện. Thiện ấy là điểm để cho niềm tin và an lạc trong tâm ta phát sinh và nhân duyên, nhân quả tốt đẹp hình thành trong đời sống của ta.

Một người biết sống yêu thương và tử tế với chính mình, người ấy không phải chỉ biết khắc phục hậu quả khổ đau, mà còn phải biết cách lấy những hạt giống khổ đau ra khỏi tâm thức của chính họ, khiến cho mọi nhân duyên, nhân quả khổ đau không còn có điều kiện sinh khởi ở trong đời sống của họ nữa. Và một người thông minh, giàu lòng nhân ái, người ấy không phải chỉ biết giúp người khác khắc phục hậu quả khổ đau, mà còn phải biết cách giúp cho người khác, thoát ra khỏi những hạt giống khổ đau ở nơi tâm thức của chính họ nữa.

Khổ đau hay hạnh phúc đến với chúng ta là từ nơi tâm thức của mỗi chúng ta. Nên, mỗi khi đối diện với khổ đau hay hạnh phúc là ta có cơ hội để tiếp xúc với những hạt giống thiện, ác ở nơi tâm ta. Tiếp xúc với những hạt giống bất thiện ở nơi tâm ta, không phải để đối phó, mà để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa, khiến chúng đi về theo hướng hiền thiện. Và tiếp xúc với những hạt giống thiện ở nơi tâm ta không phải để tự mãn, mà để tiếp tục nuôi dưỡng và thăng hoa chúng đến chỗ thuần thiện.

Tiếp xúc và làm chủ tâm ta mỗi ngày, điều ấy không phải là dễ, tại sao? Vì tâm ta không có hình tướng. Nó vĩ đại thì trong thế gian nầy không có gì vĩ đại cho bằng; nó tinh vi, thì ở trong thế gian nầy, không có cái gì tinh vi cho bằng; nó bén nhạy và linh hoạt, thì ở trong thế gian nầy không có cái gì bén nhạy và linh hoạt cho bằng; nó độc ác thì ở thế gian nầy không có cái gì độc ác cho bằng; nó thánh thiện thì ở trong thế gian nầy không có cái gì thánh thiện cho bằng.

Vì vậy, tiếp xúc và làm chủ tâm là cả một công trình tu luyện liên tục và miên mật.

Và cũng vì vậy, ai tiếp xúc và làm chủ được tâm, người ấy mới có khả năng làm chủ được nhân duyên, nhân quả của đời mình, làm chủ được sự sống chết và tự tại giữa muôn ngàn diệt sinh, ảo hóa của vạn duyên và vạn hữu.

Nếu ta không làm chủ được tâm ta, thì ta sống với ai, ta cũng sẽ buồn chán, sống với xứ sở nào ta cũng sẽ thất vọng. Và nếu ta làm chủ được tâm ta, thì ta sẽ làm chủ được vạn duyên trong đời sống của ta, nên sống với ai ta cũng vui. Ta sống với thiện hữu tri thức ta vui đã đành, mà sống với ác tri thức cũng không làm cho niềm vui của ta bị suy giảm. Sống với thiện tri thức ta cũng có điều kiện để học hỏi và thăng hoa, mà sống với ác tri thức ta cũng có điều kiện để nhìn lại mình, mà phòng hộ và chuyển hóa. Sống trong thuận cảnh, ta vui đã đành mà sống trong nghịch cảnh, niềm vui của ta cũng không hề bị tổn giảm. Sống trong thuận cảnh, ta cũng có điều kiện để thăng hoa, mà sống trong nghịch cảnh, ta cũng có điều kiện để tôi luyện và phát huy nội lực.

Nghiệm cho cùng, sống giữa đời không có ai tồn tại trong thuận cảnh đơn thuần và cũng không có một ai tồn tại đơn thuần giữa nghịch cảnh. Nghịch và thuận là hai mặt tương sinh trong đời sống của mỗi chúng ta. Cũng như hai cánh tay phải và trái là hai khía cạnh của một thân thể lành mạnh, linh hoạt và tháo vát. Một thân thể lành mạnh, linh hoạt và tháo vát không bao giờ chỉ biết hoạt động một tay hay một chân.

Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, ta thuận với cái nầy, thì ta nghịch với cái khác và ta nghịch với cái nầy, thì ta thuận với cái khác.

Ta chỉ có hạnh phúc và có khả năng hướng thượng, khi ta nhận ra được sự thật của lẽ thuận nghịch ấy trong đời sống của ta và chung quanh ta. Ta phải biết tác dụng thực tế của hai mặt thuận nghịch, ngay trong đời sống của mỗi chúng ta. Và ta phải biết làm chủ tâm ta ngay trong cái lẽ thuận nghịch ấy của cuộc sống.

Ta cần nhìn thật trầm tĩnh và sâu sắc để thấy rằng, ở trong đời có những cái thuận với ta cũng có khi giúp ta, nhưng cũng có khi hại ta và có những cái nghịch với ta cũng có khi là hại ta, nhưng cũng có khi giúp ta rất nhiều.

Nên, vấn đề an lạc và hạnh phúc của ta không phải là ở nơi sự từ chối nghịch chạy theo thuận, mà ta phải biết làm chủ tâm ta giữa hai lẽ thuận và nghịch ấy của cuộc sống. Ta cần phải nhìn sâu để biết rằng, chân lý của cuộc sống là bao gồm cả hai lẽ thuận và nghịch, nếu từ chối thuận hay từ chối nghịch, thì ta không có lý do gì để hiện hữu.

Cũng như ánh sáng là chân lý và tác dụng của ngọn đèn, nếu ngọn đèn chỉ chấp nhận điện tử dương, mà từ chối điện tử âm hoặc chỉ chấp nhận điện tử âm mà không chấp nhận điện tử dương, thì ánh sáng và tác dụng của ngọn đèn không bao giờ phát ra, khiến cho sự có mặt của cây đèn trở thành vô dụng và vô nghĩa. Ánh sáng của ngọn đèn chỉ phát ra và có tác dụng lợi ích cho cuộc sống, khi nào bản thân ngọn đèn có khả năng tiếp nhận và làm chủ hai dòng âm dương, thuận nghịch đến với nó và hoạt động trong nó.

Cũng vậy, mỗi khi ta đã làm chủ được tâm ta, khiến tâm ta hoàn toàn không bị chi phối bởi các vọng tưởng, thì hai lẽ thuận nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, giúp cho ta đi tới với đời sống tự do và khiến cho ta thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch.

Thuận và nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, chẳng khác nào đôi cánh phải và trái của chú chim đại bàng đã giúp cho chú bay liệng giữa bầu trời cao rộng và tự do.

Thuận và nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, cũng phải thường trực quán chiếu như vậy, để lúc nào và ở đâu, ta cũng làm chủ được tâm ta, để ta có khả năng chế tác ra hạnh phúc và an lạc cho ta và cho mọi người, khiến cho ai cũng có thể thực hiện đời sống thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch


Thích Thái Hòa 

Nếu mai đời là một đoá hư không.


Vén lại muôn trùng muộn đời cơn bão tố, em ngồi đó. Tìm một vầng trăng vô lượng  trốn trong tâm. Em hỏi tâm sao cứ vất vưởng vô thường. Cuộc sống vốn dĩ là bất toàn, vậy em đi tìm gì trong ngày tháng.
    Em hỏi Người “Đời sống là gi?” và có thể nắm chặt trong lòng bàn tay được hay không?
    Người trả lời: Bàn tay em mềm và tâm em nhỏ quá. Chỉ đủ để ôm chất phù du lãng mạn. Nếu em đếm được bước chân vô thường trên dốc đồi của trò đời, em sẽ thấy vô cùng trong hiện tại. Tiếng nói bình yên đang ở đây
 
Đời  vẫn trôi trong tịch mặc, em không thể nhìn thấy những gì sắp xảy ra trước mặt bằng đôi mắt bình thường. Mà hãy nhìn bằng ánh sáng của từ tâm một cách thiền quán và hiền ngoan hơn. Trong từng mỗi một phút giây bảng ngã của sự sống, ai cảm nhận được thanh tịnh đến từ nhiễm uế, rời bỏ những bon chen ảo vọng, mỉm cười dung dị với những hờn ghen, đố kỵ...Người đó là đang sống.
   Em tiếp tục hỏi Người. Sao vô thường là những gì không nắm bắt được.
   Người chỉ tay về hướng sương rơi, một chiếc là vàng trên cây vừa rụng xuống, người nhìn một thoáng mây bay, một cơn sóng gợn nhẹ trên mặt hồ rồi tan biến. Vô thường là vậy đó. Như trò huyễn thuật, như bóng lồng sương, như anh chớp ban chiều. Có đó rồi mất đó. Cuộc sống không chỉ bung ra, rồi dừng chân hiện hình tồn tại vĩnh cữu. Trong lòng tay huyễn mộng, ngút ngàn “sắc là không, không tức là sắc”.
   Em nghe chừng hơi thở như ngưng bặt, nghe một nổi hao mòn trong thoáng chốc. Thế giới đang quay cuồng với bao biến động, đầy rẫy những thị phi, cám dỗ, toan tính ái ngã và tiếng vọng tâm thúc dục giữa thế giới thực và hư. Vậy trong ảo giác tìm đầu ra thực nữa.

 
 Đã bao năm rong ruỗi trên đường đời đi khất thực tìm hạnh phúc, uy tín, danh lợi, trên đôi vai oằn gánh nặng cuộc đời, chốn trần gian là bão tố. Cũng bởi sắc, bởi hương, bởi thanh, bởi giai tầng vị xúc pháp, cuối cùng có được những gì trên đường về bình yên, điều gì còn lại khi buông xuôi đôi tay, mắt khép vào miên viễn. Khi nếu mai đời là một đóa hư vô?
   Lại một ngày nữa em trở về thanh tịnh, và đã nhận ra cái còn lại sau tất cả mà em có thể nắm bắt được, thì phải chăng đó là tấm lòng. Vì con người cần tấm lòng nhân bản bao dung, chia sẻ.
    Hãy ngồi lại và lắng nghe lòng mình đi em. Cuộc đời là dòng sông tuôn chảy bất tận, có bao lớp phù sa dù nhơ dù sạch, dù tận cùng của đỉnh sóng hay rả rời, buông mình theo cơn sóng, rơi hoà tan trong biển cả. Dù mưa gió cuộc đời có là cuồng phong bão tố, dậy sóng nhân gian, nhưng em sẽ trở về lắng nghe tâm mình hát bản giao hưởng của cõi luân hồi.
   Lặng nghe sông đời hát, em sẽ chạm sâu vào âm ngân đó, vào tận cùng của đáy tâm, em đã cảm thấu được hết những chất đề hồ từ bi lực.
 Cám ơn vô thường, làm ta thức tỉnh
 Cám ơn cơn đau, cảm niệm được phận người
 Cám ơn bốn đại, có hình hài huyễn mộng
 Cám ơn Người, em đã tỏ đường đi.

 
    Thùy Dương.

Khuôn mặt của sự tử tế.






Tôi có đọc đâu đó rằng, có ba điều người đàn ông tử tế không được phép làm: bất hiếu với bố mẹ, lừa dối người mình yêu và không thừa nhận con cái. Sự trung thực, với người đàn ông, chính là một trong những biểu hiện đó. Đối diện với những sự cố lớn của cuộc đời, người đàn ông sẽ bộc lộ tâm tính của mình rõ nhất. 

Steve Job có nói rằng, người thợ mộc tài hoa là người không bao giờ dùng miếng gỗ xấu làm mặt sau chiếc tủ của mình. Bởi có thể người khác không biết, nhưng chính bạn thì biết rất rõ điều đó… Sự thật do chính mình tạo nên, có lẽ hơn ai hết, chúng ta tự thấu hiểu. Cách biểu đạt sự thật ra sao với người đối diện là tuỳ vào cách chúng ta ứng xử. Nhưng mỗi cách ứng xử của chúng ta cũng thể hiện bản chất con người. Người thợ mộc tài hoa có thể có đủ cách lấp liếm để biện minh rằng, tấm gỗ ấy phù hợp với chiếc tủ ấy. Nhưng anh ta sẽ biết, nó có thực sự xứng đáng với một chiếc tủ đẹp hay không. Và người tử tế thì sẽ không chấp nhận điều đó, ngay từ khi ý định đó chưa hình thành.

Trong kịch “Trai đẹp lắm chiêu” ở sân khấu Thế giới trẻ, có một anh chàng lái taxi nói dối hoàn hảo, đến mức có hai cô vợ ở cách nhau hai dãy phố mà vẫn rất êm ấm. Anh ta lên lịch chăm sóc vợ cả, âu yếm vợ hai hoàn hảo. Cho đến một ngày anh ta vô tình bắt cướp trên đường phố và báo chí đưa tin. Từ đó, phần còn lại của vở kịch chỉ là cuộc trốn chạy và lấp liếm của chàng nói dối, với những tình huống cười ra nước mắt. Kịch bản hợp lý đến mức, ai cũng tin rằng, kẻ nói dối thì chẳng bao giờ có thể… sống sót, nhất là xung quanh anh ta toàn những người tử tế và thật thà…

Trong những bộ phim xã hội đen của Hồng Kông, những bộ phim dành cho giới bình dân với những câu chuyện tình – tiền – tù – tội có phần thảm khốc. Người ta luôn làm ra những mâu thuẫn triệt để rồi thanh trừng, báo thù, tạo nên những cảnh huống gay cấn và hồi hộp. Tôi vẫn nhớ rất rõ, hình ảnh những người đàn ông chính trực trong bộ phim ấy, dù có thể gặp những sự cố chết người nhưng với những gì là rường cột của cuộc sống, của lý tưởng sống, đó là gia đình, ông chủ và những đứa con, họ sẽ bảo vệ đến cùng!.

Người cha đi ra đường chém đối thủ hay thủ tiêu kẻ thù, nhưng sẽ cố gắng không cho con mình biết điều đó. Không phải đó là sự dối trá, mà cố gắng giữ cho con cuộc sống yên lành. Hay người đàn ông có thể bỏ trốn hay tháo chạy khỏi các cuộc đua, nhưng anh ta sẽ không bao giờ bỏ rơi người phụ nữ mình yêu. Và đặc biệt, dù chính hay tà, thì sự hiếu đễ với cha mẹ là điều mà các nhà làm phim đặc biệt đề cao. Đó tất nhiên chỉ là phim ảnh, nhưng nói theo cách khác thì phim ảnh chính là nơi thể hiện khát vọng của con người. Người ta luôn có niềm tin rằng, người đàn ông sẽ là trụ cột của một tổ chức hay trụ cột gia đình. Và khán giả sẽ phẫn nộ khi nhận ra rằng, người hùng mà họ đặt niềm tin hoá ra lại là kẻ hèn nhát và vô nhân.

Tôi từng gặp những người đàn ông (mà không biết có thực sự là đàn ông không) ngoài mặt toàn nói những điều tốt đẹp, nhưng khi đối tác vừa quay đi đã xọc thẳng một nhát dao sau lưng. Có những người rất trí thức, làm giám khảo nhiều cuộc thi, đã từng ngồi trước mặt tôi nói những lời khen ngợi hết lời, nhưng trong một đám gặp với người khác lại chê tôi không còn một lời nào xấu xa hơn thế. Một người đàn ông tử tế có lẽ không bao giờ làm những việc hạ lưu như thế. Và tuyệt đối không sống hai mặt. Và người đàn ông quan trọng nhất là phải giữ chữ tín của mình, không bao giờ dùng sự dối trá để hành nghề và ứng xử trong đời. Khi nghe được tất cả những điều đó, bị đâm sau lưng đến đau điếng, tôi chọn giải pháp im lặng. Xoá bỏ tất cả những điều đó ra khỏi cuộc sống của mình. Bởi nói như đức Phật, im lặng chính là cấp độ cao nhất cho sự phỉ báng.

Người đàn ông trung thực không có nghĩa là người đàn ông ngờ nghệch và ngô nghê. Sự trung thực không bao hàm nghĩa của sự ngu dốt. Trung thực là thước đo phẩm chất của một con người trong xã hội hiện đại. Và sự trung thực đó được thể hiện trong những việc làm cụ thể, ứng với những quy chuẩn chung của xã hội. Những kẻ láu cá có thể có được những thành công nhanh chóng, nhưng sự nghiệp lâu bền của một con người không thể đi tắt và cũng không thể xây dựng bằng những xảo ngôn.

Một trong những nguyên tắc để sống, là thành thật với mình và với người. Sự khôn ngoan của một con người, là làm sao dung hoà được những điều mình muốn và người muốn. Trong nguyên tắc kinh doanh mới, sự hợp tác không chỉ bao hàm ý nghĩa kẻ nào mạnh là kẻ chiến thắng mà còn có hàm nghĩa rằng, khi chúng ta hợp tác chúng ta cùng có lợi, cùng là những người chiến thắng. Mà không có sự hợp tác lâu bền nào dựa trên sự dối trá.

Có những người đàn ông nho nhã và luôn “chém gió” ngoài đường, nhưng ứng xử với người thân như người dưng nước lã, bạc bẽo với bạn bè và thường xuyên đè ép nhân viên, đồng nghiệp, vậy thì đó có phải là người đàn ông trung thực và tử tế? Sự tử tế phải bắt đầu từ gốc rễ cuộc sống, từ trong căn nhà của bạn, trong tổ ấm hay trong cả một lời nói với người lạ mà bạn bắt gặp trên đường.

Đôi khi chúng ta phải tỉnh thức để biết mình nên làm gì cho đúng với chính mình, để khỏi bị vướng vào những cái bẫy của những lời nói dối.

Hãy chọn con đường nào gần gụi, để sống thật và sống khoẻ…

Vì cuộc sống này đã quá bề bộn rồi…

Khoảnh khắc bị những việc vụn vặt bao vây..

* Bi kịch của đời người phần nhiều là do mình gây nên.

* Đời người thành công thường thường không phải là do bạn làm nên cái gì, mà là do bạn vứt đi cái gì.
 

 


Phàm những người hay làm những việc vụn vặt rốt cuộc không làm nên việc gì.

Công việc không phân lớn nhỏ, không phân chủ yếu thứ yếu, không xét đến giới hạn của thời gian, tinh lực và năng lực, việc gì cũng đều nắm lấy tất vào tay mình, việc gì cũng phải tự mình đi làm, luôn luôn làm việc hăng say như thế, luôn luôn vất vả một phút không dừng như thế. Anh ta nhiều nhất có thể giành được mức no ấm, không có thể làm nên việc lớn, càng không thể có cuộc đời thực sự vui vẻ thoải mái.

Nhưng mong bạn không phải là như thế.

Thường thường vì một số việc linh tinh không có gì quan trọng mà tất tả ngược xuôi, suốt ngày bị nhấn chìm vào trong hàng đống những việc vụn vặt hàng ngày, như thế thì thời gian dùng vào sự nghiệp bạn theo đuổi, thời gian dùng vào những sự việc quan trọng to lớn quan tâm đến thiết kế cuộc đời của bạn, tất nhiên sẽ giảm bớt rất nhiều. Nếu như bạn là lãnh đạo của một đơn vị, một công ty nào đó, một khi bị những việc vụn vặt linh tinh bao vây không thể tự bứt ra được, thậm chí bạn không thể bớt ra được bao nhiêu thời gian dùng vào việc trù liệu những việc chính đáng. Tôi có quen biết một ông giám đốc một nhà xuất bản thời gian chủ yếu và tinh lực của ông đều bị ràng buộc vào trong một mớ mâu thuẫn nhân sự không rõ ràng, làm cho thân thể và tâm trí tiều tụy. Còn việc vạch kế hoạch chọn đề tài, tổ chức xuất bản phát hành, thẩm tra bản thảo và sách, lại trở thành công việc nghiệp dư của ông. Kết quả là ông giám đốc này không thể tiếp tục đảm nhận được nữa, cuối cùng vẫn là do mâu thuẫn về phương diện nhân sự làm ông bị đổ.

Nếu như bạn suốt ngày bận rộn công việc vụn vặt rất ít nghỉ ngơi, rất ít vui chơi, rất ít đi chơi đây đó, luôn luôn bận, luôn cho người ta cảm giác ứng tiếp không xuể, làm đến nỗi mệt mỏi không thể chịu được nữa, như thế thì trí lực và tài năng của bạn sẽ bị hao mòn dần, theo đó hiệu suất công việc cũng giảm đi nhiều. Bạn làm việc 8 tiếng đồng hồ có thể không bằng người khác làm 4 tiếng đồng hồ.

Phàm những người suốt ngày bận với những việc lặt vặt đều có gánh nặng tâm lý rất nặng nề, tinh thần mệt mỏi, khó có thể sản sinh ý thức sáng tạo cái mới, không có cách gì thực hiện được những công tích dựng nên và sáng tạo độc đắc của mình. Bạn chỉ có thể bò ở phía sau người khác, chỉ có thể theo nề nếp cũ, một đời của bạn tất sẽ bình thường mà thôi.

Có thể bạn vốn không phải là lớp người bình thường, có tiềm năng sáng tạo to lớn và tài trí thông minh xuất sắc, chỉ vì bạn không thể thoát khỏi vòng bao vây của công việc vụn vặt, quanh năm suốt tháng ngổn ngang trăm mối trong lòng, bận bịu với một số việc vụn vặt hàng ngày, thể xác và tâm hồn bạn suốt cả thời gian dài không được chăm sóc đầy đủ, không thể giữ được tâm trạng nhẹ nhõm vui vẻ thoải mái, không thể giữ được tình cảm mãnh liệt bột phát với công tác nữa. Như thế, tài trí thông minh của bạn tất sẽ bị mai một đi một cách vô hình dẫn đến giảm sút gần hết, tiềm năng sáng tạo của bạn cũng sẽ vĩnh viễn không được phát huy. Điều đó lại càng đáng tiếc đáng buồn hơn, mà tất cả những cái đó bạn thường khó cảm nhận ra.

Lại có một loại người khác bị những công việc vụn vặt bao vây không thể tự rút ra được, chỉ vì anh ta không thể phân biệt rõ ràng mình rút cuộc nên làm gì, trong lòng không có chí lớn, không có mục tiêu, không có kế hoạch và sách lược, chỉ có thể làm "một ngày làm hòa thượng một ngày đấm chuông". Người như thế là tương đối nhiều trong quần thể người, do tâm tính chí thú của họ đã quyết định họ chỉ có thể đem thời gian và tinh lực dùng để ứng phó những việc vụn vặt hàng ngày, để phát ra sinh mệnh buồn chán, vô vị. Đến cuối cùng trống không chẳng có gì, không thu nhận được kết quả gì, đây đương nhiên là một cuộc đời không làm nên một việc gì cả.

Chính vì thế, bạn cần phải bứt ra khỏi vòng vây của những việc vụn vặt, trước tiên phải có mục tiêu phấn đấu của cuộc đời rõ ràng. Phải xác định rõ mình làm cái gì không làm cái gì, theo đuổi cái gì vứt bỏ cái gì.

Mục tiêu phấn đấu của bạn có thể là trừu tượng, chứa đựng rất nhiều, rất nhiều nội dung, còn trên mỗi một chặng trên đường đời, thế giới bên ngoài sẽ luôn luôn nổi lên những cám dỗ mới mẻ đối với bạn, sẽ làm lung lay niềm tin và sự theo đuổi của bạn.

Lúc này, nhận sự cám dỗ hoặc không nhận cám dỗ có thể làm cho bạn sản sinh tự giải thoát mãnh liệt. Nếu như bạn là một người có khả năng làm nên việc lớn, có phẩm cách kiên cường bạn sẽ có thể có được sự lựa chọn hợp tình hợp lý. Vứt bỏ những cái bạn nên vứt bỏ, theo đuổi những cái bạn nên theo đuổi. Chỉ có điều là có cái vứt bỏ mới có thể có cái theo đuổi, có cái vứt bỏ mới có thể thực hiện được cái theo đuổi. 

Nếu như bạn tầm thường không có năng lực, tâm tính dễ thay đổi, bạn sẽ đứng núi này trông núi nọ, đem niềm tin và sự theo đuổi ban đầu quăng theo vứt bỏ những cái không đáng vứt bỏ, theo đuổi những cái vốn không nên theo đuổi, thậm chí đắm đuối say mê sa ngã trong mọi cám dỗ, không phân rõ trái phải phương hướng biến đổi mình đến nỗi không nhận ra mình nữa.

Bi kịch của đời người phần nhiều là do mình tạo nên.

Dù cho có được mục tiêu rõ ràng và phẩm cách kiên cường, mà không có kỹ xảo điều khiển cuộc đời đúng đắn, cũng không thể thoát ra khỏi vòng vây của những việc vụn vặt.

Bạn còn phải hiểu rằng con người ngoài làm việc ra, còn cần phải có vui chơi giải trí nữa. Một người lớn tuổi thân thể và tâm hồn kiện toàn có đặc trưng tâm lý quan trọnglà: giữ được tâm lý thời trẻ con ham thích vui chơi. Có được tâm lý này, ngoài công tác ra thường thường tham gia vào các cuộc vui chơi bạn sẽ có thể xông ra khỏi vòng vây của công việc vụn vặt.

Có người tưởng vui chơi chỉ là việc của trẻ con, đó sẽ là sai lầm vô cùng lớn. Thật ra tâm trạng vui chơi mới là tâm trạng thực của con người, tâm trạng người ta cần phải có. Người ta thường dùng tâm trạng thanh thản, thư thái để hưởng thụ cuộc đời, trên thực tế đây chính là vui chơi. Vui chơi hoàn toàn không có ý niệm xấu mà có tính chân lý, hoàn toàn nhẹ nhàng mà không phải là việc làm nhân tạo. Nó là việc chân thành nhất mà lại giàu đức tính nhất, là quần chúng hóa lớn nhất mà lại rất có sức sống.

Lão Tử - ông thánh am hiểu đường đời nhất đã lớn tiếng hô hào mọi người:

- Hãy trở về thời trẻ con

Chính là muốn người ta không nên tự tìm kiếm khổ nào, không nên xem cuộc sống, xem đời người nặng nề đến như thế, không nên vứt bỏ tâm hồn trẻ thơ, không nên xa rời tinh thần vui chơi, cũng chính là muốn người ta tự bứt khỏi cái bận rộn của cuộc sống, tự cứu thoát từ những điều phiền não của những việc vụn vặt.

Một cuộc đời chưa được thưởng thức mùi vị vui chơi thì được xem là cuộc đời gì?

Đời người thành công, thường thường không phải là do bạn làm nên cái gì, mà là do bạn vứt bỏ cái gì.

- Có cái không làm mới có thể có cái làm nên. Không làm mới dẫn đến có triển vọng. 

"Vô vi nhi vi", dùng thuật ngữ triết học đơn giản dễ hiểu để biểu diễn là "không" và "có". Sự vật mà thế giới mênh mông xem như là không, kỳ thực chính là lấy cái không của nó để làm cái có. Lão Tử có nêu ra ví dụ để minh chứng, đại ý như sau:

Chỗ trống rỗng của những chỗ trung gian của vành xe và nan hoa, chỗ trống rỗng ở trong các bình chứa, chỗ trống không trong không gian cửa sổ căn phòng đều xem như là không (trống rỗng) mà tác dụng của chúng chính là dùng cái "không" để thực hiện.

Cho nên, trong toàn bộ quá trình tổ chức vận động của cuộc đời, cần phải vứt bỏ một số cái, lưu lại một số cái ?trống không?, tức có cái không làm, những cái vứt bỏ kia, những chỗ trống không kia, xem như là không (có), nhưng kỳ thực chính là dùng cái không có của nó để thực hiện mục

đích của sinh mệnh, vứt bỏ là để có được, lưu lại chỗ trống không là để bổ khuyết thêm.

Cho nên các nhà hiền triết các đời trước khi mở mang trí tuệ của chúng ta luôn luôn ân cần nhắc nhở mãi không chán: đừng nên mưu toan quá nhiều, đừng nên có ý nghĩ mờ ám quá nặng, đừng nên ham muốn quá tham, đừng nên bị việc vụn vặt bao vây. 


Bạn thoát ra khỏi vòng vây của việc vụn vặt, tự giác vứt bỏ một số, giữ lại một số chỗ "trống rỗng", chăm chú vào việc làm, đừng nên để ý đến điều mong cầu, thì tâm tình của bạn sẽ luôn luôn nhẹ nhõm vui vẻ, cuộc đời của bạn sẽ càng thêm đầy đủ, càng thêm giàu có.  



99 khoảnh khắc đời người

ZHANG ZI WEN

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

Tiễn tóc.


Mỗi sáng, đều đều với một thao tác quen thuộc.
Khi trên mặt em còn ngơ ngác với đêm sâu chưa đủ giấc. Thả trôi, thả trôi từng nắm tóc bay qua cửa sổ. Có lần thảng thốt, có lần giật mình vuốt nhẹ. Tóc tơ. Tóc mỏng manh. Tóc đã bay một vòng trong nắng gió, rồi nhẹ nhàng nằm yên dưới đất. Cỏ dại vơ vẩn đón lấy. Tóc của em. Lưa thưa buồn.
Mỗi chiều, tô son điểm phấn, nét dọc, nét ngang, nét sơ sàng lọc cả một mùa thu hanh hao buồn tênh. Chỉ là xưa thôi, mùa hồn nhiên tươi vui đã trôi đi. Bất giác, có lần nghe khúc nhạc mỏng manh với những âm thanh một thời làm em rơi nước mắt. Thử nhấc chiếc kèn phủ bụi. Em thổi gió ru mình, ru tình, ru lòng, ru những tháng năm như sợi tóc kia còn đầy đặn trên mái đầu.
Sáng mai, vẫn thế, tiễn một nhúm tóc về với đất. Tóc tơ. Mẹ em cũng vậy. Lênh đênh không nụ cười như thời con gái nhiều bất hạnh nổi trôi.
Sáng nay. Qua ô cửa kính từ tầng hai đó. Em lại chải tóc. Nắng thu len nhẹ. Gió thu chập chờn. Có mấy sợi tóc mai lởm chởm. Đưa tay vuốt lại. Đè nghiến xuống bằng chiếc kẹp bé xíu. Tóc mai vẫn cứ bướng bỉnh chỉa lên như mấy cọng tóc để chỏm của thằng bờm. Em không thể buồn nhiều hơn xưa nữa. Đời cho em được sống bao nhiêu năm để buồn, để khổ? Cười mỗi sáng, mỗi chiều, mỗi tối. Cười có mất gì đâu?
Bộn bề những dự định. Bộn bề với cuộc sống. Em phải bắt đầu một ngày mới. Tiễn tóc tơ về với đất. Đón tóc mai hớn hở. Trong tâm hồn và trái tim của con người vẫn luôn có một sự hồi sinh chớm nở như vốn dĩ đã có từ thuở nào…

Một mình trong chiều ..



Con chim sẻ đứng trên mái ngói kia
Muốn nói gì với mặt trời?
Lời chim thì nhỏ
Bầu trời thì cao...

Mối tình anh như mái ngói đầy rêu
Nỗi buồn đóng thành tầng
Em dẫm vào trượt ngã
Vết nhói đau đến lạ
Như lời tình ca cũ kỹ đã xanh rêu

Giá như ta là của nhau
Đơn giản như ánh nắng ngoài kia
Thời gian em không còn rỗng
Em muốn đem cho anh tiếng khóc từ đáy lòng
Nước mắt đã khô
Giá như anh có một lần nhìn được!
Nhưng,
Con chim sẻ đứng trên mái nhà
Hót hoài
Chẳng có ai nghe...

Chẳng có thứ thuốc trường sinh nào giữ được tuổi trẻ của em
Chẳng như loài hoa bất tử
Cứ lóng lánh trong hoàng hôn của mình

Con chim sẻ bay đi còn để lại những dấu chân phiền muộn
Trên mái ngói đầy rêu
Như danh thiếp một mối tình đi vắng
Em ngã trong nỗi buồn thầm lặng
Già nua
Mệt nhoài...

Giá như anh có một lần biết được
Em muốn như con chim sẻ kia
Bay đi
Bay đi
Dù không đến được mặt trời...

Sức quyến rũ của đàn bà tuổi 30..



Nếu hỏi đàn ông họ thích nhất điều gì ở phụ nữ tuổi "30+", họ sẽ chẳng do dự nói rằng đó là sự thoải mái về "sex".

>> Những điều làm nên hạnh phúc ở phụ nữ tuổi 30
>> Bí quyết dưỡng da cho phụ nữ tuổi 30
Bạn là hàng second-hand hay là hàng bị trả lại? Bạn có đang thiếu tự tin vì nhiều nỗi sợ hãi mơ hồ? Bạn nghĩ rằng bạn sẽ ngại ngùng khi được yêu thêm lần nữa? Bạn cho rằng hình mẫu lý tưởng của các chàng bây giờ là một cô nàng 9x nào đó chân dài, thông minh, sáng láng, trẻ khỏe, eo thon, ngực đầy, luôn sẵn sàng lăn xả và chịu chơi tới bến với chàng? Có thể bạn đã tự hạ thấp mình. Sự thực là ở thời đại này, một người đàn ông chín chắn có thể hoàn toàn bị mê hoặc bởi tuýp người phụ nữ đằm thắm ở tuổi "30+" như... bạn. Lý do là:

Vì ta độc lập...

Bạn thấy hơi lạ? Nhưng đúng là như vậy đó. Đàn ông thích phụ nữ trưởng thành "30+" vì cái lẽ ta rất độc lập. Ta chẳng giận dỗi bởi chàng không gọi điện mỗi ngày hay quên rủ ta đến cuộc vui nào đó với bạn bè. Ta cũng chẳng cần ai giúp đỡ giải khuây hay kè kè đóng vai vệ sĩ. Ta biết cách tự chăm sóc mình và hưởng thụ cuộc sống đầy đủ, không cần vướng bận chàng. Ta thừa hiểu đàn ông cần tự do như khí trời. Ta thừa hiểu "bóng hồng" chàng muốn sánh đôi không phải là một em thích yêu sách, nhõng nhẽo, chẳng chịu rời chàng nửa bước, mà chính là một phụ nữ độc lập, tự do, hạnh phúc như ta.


Ta rất tự tin...

Phụ nữ đến tuổi "30+" thường hiểu rõ mình muốn gì. Ta sẵn sàng cho chàng biết rằng ta quan tâm chàng và nếu chàng nghiêm túc thì ta cũng chẳng ngại mở lòng. Nếu một cô gái "20+" có thể loay hoay khiêu khích chàng bằng các chiêu õng ẹo, nũng nịu, tỏ vẻ hờn dỗi, làm bộ đau khổ thì phụ nữ "30+" không để chàng phải mất thời gian hay mệt đầu vì phỏng đoán. Ta sẽ nói thẳng về cảm xúc của mình, thích hay không thích. Đàn ông đánh giá rất cao sự thẳng thắn và trung thực này.

Ta biết trò chuyện và lắng nghe chàng

Tại sao phụ nữ "30+" lại là người đàm đạo thú vị hơn? Đơn giản là vì ta trải nghiệm nhiều hơn. Đời sống của ta có nhiều điều đáng kể hơn và lời khuyên của ta cũng thiết thực hơn. Quan trọng nhất là ta rất biết lắng nghe. Người ta nói một phụ nữ không đẹp biết nói chuyện thì hấp dẫn hơn những người đẹp "chân dài đến nách" hoặc "nách dài đến chân". Các cô gái "20+" hiếm khi có được ưu thế này, do chưa đủ trải nghiệm và kiến thức chứ không phải vì họ ngốc. Ngoài ra, đa số các cô ấy ưa nói nhiều về cảm xúc của bản thân và không biết lắng nghe. Sự hấp dẫn của vẻ ngoài tươi trẻ rồi cũng nhàm dần nhưng những câu chuyện thú vị của đàn bà 30 thì sẽ đọng lại khiến chàng muốn duy trì mãi mối thâm tình với ta.

Ta tự chủ về tài chính

Đàn ông đánh giá cao những phụ nữ tự chủ về tài chính. Không phải vì chàng có tính ky bo hay lăm le "đào mỏ". Đơn giản là đàn ông thường thực tế mà phụ nữ "30+" lại có sự nghiệp ổn định và thu nhập vững chãi hơn các cô gái "20+" chân ướt chân ráo mới đi làm lại khoái dòm ngó bóp ví của mấy chàng có dày hay không. Tất nhiên tiền bạc không phải là yếu tố đầu tiên khiến đàn ông quý trọng đàn bà nhưng nó vẫn đóng vai trò nhất định. Ít ra thì ta cũng có thể share hóa đơn với chàng, khiến chàng cảm thấy nhẹ gánh hơn.

Ta biết kết bạn

Các cô gái "20+" thường chơi cả hội và họ thân nhau đến mức một khi chàng đã kết một em thì buộc phải kết thêm cả đám bạn lí nhí của em nữa. Nhưng phụ nữ trưởng thành ít phụ thuộc vào ý kiến bạn bè. Ta có khả năng tự quyết, không cần tìm kiếm sự ủng hộ từ các cô bạn gái. Ta sẽ không điện cho cô bạn chỉ để hỏi nên diện chiếc váy nào cho cuộc hẹn tối nay hay chọn quán nào có món ngon, mới lạ để bắt chàng móc bóp đến đồng xu cuối cùng. Ta chỉ có những người bạn để giúp nhau lúc thật sự khó khăn. Ta không mất thời gian vào những cuộc chơi vô bổ và những mối quan hệ bạn bè vu vơ. Ta đã biết thế nào là thứ tình bạn qua cầu rút ván và bây giờ, trong điện thoại của ta chỉ lưu số của người thân và bạn bè đã qua thời gian thử thách.

Ta tiêu khiển hợp lý

Tại sao tiêu khiển cùng một phụ nữ trưởng thành lại thú vị hơn? Vì ta có nhiều sở thích phong phú và "gu" của ta cũng tinh tế hơn. Ta hài lòng với việc đọc sách, nghe nhạc, xem phim, shopping, spa hay những chuyến du lịch giảm stress... Tiêu khiển với ta, chàng sẽ an toàn và có chất lượng hơn nhiều.

Ta không quá đa cảm

Cũng dễ hiểu việc những cô gái trẻ hay thổi phồng cảm xúc. Đơn giản là vì họ đang phải đối diện với rất nhiều thứ đầu tiên (tình yêu, sự phản trắc, cú sốc đầu tiên…) và họ chẳng biết ứng xử ra sao? Ngoài ra, họ luôn có khuynh hướng bi kịch hóa mọi chuyện, hôm trước vừa hẹn hò mà hôm sau chàng không gọi điện là tim họ muốn vỡ tan. Vì thiếu trải nghiệm nên họ hay gán cho một hành vi nhỏ xíu, một câu nói vô tình những ý nghĩa quá nghiêm trọng. Cho nên, yêu một cô gái "20+", chàng phải chuẩn bị tinh thần thép mà ứng phó với những cuộc chiến hay bùng nổ bất thình lình. Nếu không, mối quan hệ đó sẽ rất khó bền lâu.

Phụ nữ trưởng thành biết quý trọng và kiểm soát được cảm xúc của mình nên ta chẳng dại gì mà nổi cơn tam bành chỉ vì người đàn ông của ta liếc theo một cô gái lạ. Nói chung, trong mọi chuyện, ta biết bình tĩnh để xử lý vấn đề chứ không thêm dầu vào lửa. Cho dù có xảy ra chuyện gì to tát, ta cũng biết cách tự xoay xở chứ không vội kêu khóc ầm ĩ làm chàng phiền lòng.

Ta "sành điệu trên giường"



Nếu hỏi đàn ông họ thích nhất điều gì ở phụ nữ tuổi "30+" thì họ sẽ chẳng do dự mà nói rằng đó là sự thoải mái về sex. Chính xác là vậy, phụ nữ trưởng thành là những tình nhân tuyệt vời! Ta không chỉ tự tin về hình thể của mình mà còn sẵn sàng tỏ bày mong muốn của bản thân và chẳng ngại ngần thử nghiệm với chàng. Ta còn ý thức mang khoái cảm đến cho chàng và thậm chí rất biết kéo dài khoái cảm đó. Với phụ nữ "30+", chàng sẽ chẳng bao giờ sợ phải nhàm chán trên giường.

Ta tỉnh táo trong quan hệ

Phụ nữ "30+" biết cách tránh những tảng đá ngầm trong quan hệ. Còn nếu không thể tránh được thì ta sẵn sàng thỏa hiệp và biết cách tìm ra giải pháp cho cả đôi bên. Ngoài ra, ta không nuôi ảo giác, không tự vẽ ra những giấc mơ màu hồng. Ta không tin vào chuyện cổ tích với chàng bạch mã hoàng tử mà chấp nhận chung sống với vô vàn nhược điểm của "một nửa thế giới" là chàng. Vì thế, với ta, chàng dễ dàng tạo được mối quan hệ bền vững hơn.

Ta luôn đánh giá cao những gì chàng dành cho mình

Trong khi các cô gái "20+" hay nghi ngại và không biết quý trọng chàng thì với phụ nữ 30, ta luôn tỏ ra biết ơn chàng vì đã dành tình cảm, thời gian cho ta. Ta cũng khác các cô gái 20 ở chỗ không cho rằng đàn ông phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc phụ nữ! Do am tường về các giá trị thật và ảo, ta luôn biết quý trọng khoảng thời gian trải qua cùng chàng. Ta không đùa giỡn với tình cảm của chàng để thỏa mãn thói cao ngạo của mình. Đó chính là điều được chàng đánh giá cao hơn cả ở người phụ nữ chín chắn, đằm thắm tuổi "30+" như ta!

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Sự thật về đàn ông không phải phụ nữ nào cũng biết ..

Một cô gái từng trải qua vài ba mối tình nhưng chưa chắc cô ấy đã hiểu rõ suy nghĩ của đàn ông. 30 sự thật về các chàng trai sẽ tiết lộ tất cả những gì phụ nữ cần biết về họ.

                         


1. Chàng trai của bạn sẽ cảm thấy bị đe dọa khi bạn tán tỉnh một anh chàng khác ngay trước mặt anh ta. Nhưng chỉ cần đổi vị trí, anh ta sẽ thấy như mình đang đứng trên đỉnh của thế giới nếu bạn bám lấy anh ta ngay trước mặt kẻ đang thu hút bạn.

2. Đàn ông bị thu hút bởi diện mạo của phụ nữ ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng đó không nhất thiết phải là một cơ thể hoàn hảo. Nó có thể là nụ cười dễ thương, cử chỉ vuốt tóc hay thậm chí là kiểu nhìn chằm chằm vào anh ta...

3. Đàn ông cũng muốn nói ra những cảm xúc trong lòng mình. Chỉ vì họ không khởi xướng một cuộc tâm tình không có nghĩa là họ không thích nói về điều đó. Chỉ cần bạn không khiến anh ta cảm thấy ngượng ngùng hoặc cảm thấy bị soi xét về những gì anh ta nói thì chắc chắn anh ta sẽ cởi mở giãi bày nỗi lòng mình.

4. Mỗi người đàn ông đều có thể tưởng tượng được nhiều cô gái thích cùng một lúc. Và hầu như tất cả các gã đều từng hình dung ra cảnh mình đắm đuối nhìn theo một vài cô gái nóng bỏng trong những bộ bikini nhỏ xíu trên bãi biển ít nhất một lần trong đời.

5. Các chàng trai cũng thích "tám", phân tích tỉ mỉ về một cô gái nào đó khi cô ta vừa đi khỏi tầm mắt họ.

6. Đàn ông bị hấp dẫn bởi những hành động khiêu dâm ở độ tuổi khi họ còn rất trẻ. Họ tò mò muốn biết tất cả mọi thứ về cơ thể phụ nữ và sẽ luôn tò mò, ngay cả khi họ đang có mối quan hệ với một cô gái tuyệt vời đi chăng nữa.

7. Đàn ông cũng thích được khen ngợi. Họ không muốn nhận lời khen ngợi quá thường xuyên từ bạn bè mình, nhưng khi họ được nghe lời khen này từ một cô gái mà họ thích, họ sẽ không bao giờ quên.

8. Đàn ông thích sex. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ luôn luôn sẵn sàng cho "chuyện ấy". Gây áp lực quá nhiều có thể khiến đàn ông mất hết hứng thú "yêu".

9. Phái mạnh ghét việc nhờ vả người khác giúp đỡ. Họ sẽ tránh bất kì sự giúp đỡ nào cho đến khi cảm thấy không thể tự làm điều đó.


Đàn ông thích một cô gái có vẻ dễ thương và rụt rè lúc ban đầu, nhưng lại mê mệt cô nàng biết lột xác thành mèo hoang khi ở trên giường (Ảnh minh họa).

10. Đàn ông cảm thấy mạnh mẽ khi họ làm một cô gái đạt đến cực khoái. Điều đó khiến anh ấy tự hào về bản thân mình và đánh giá cao đối phương hơn.

11. Một chàng trai yêu một cô gái ngay cả khi họ không thường xuyên nói ra điều đó. Họ cảm thấy thoải mái hơn khi thể hiện tình yêu của mình thông qua hành động hơn là lời nói.

12. Đàn ông thích một cô gái có vẻ dễ thương và rụt rè lúc ban đầu, nhưng lại mê mệt cô nàng biết lột xác thành mèo hoang khi ở trên giường.

13. Đàn ông luôn cạnh tranh và vô cùng lo lắng mỗi khi phải chấp nhận thất bại, đặc biệt là trong thể thao hoặc khi ở trên giường.

14. Phái mạnh xem lời hứa rất quan trọng. Vì vậy, trước khi nghiêm túc bước vào một mối quan hệ mới, họ thường cân nhắc khá kĩ.

15. Đàn ông thường hứng thú với các cô gái tinh nghịch, năng động. Vì vậy, nếu người yêu họ trót hôn một cô gái khác, họ không coi đó là hành động lừa dối, thậm chí còn thấy thích thú vì điều đó.

16. Hầu như đàn ông sẽ tìm đến một cô gái khác khi nhu cầu về sinh lý và tình cảm của họ bị người yêu hiện tại “bỏ đói” trong thời gian dài.

17. Đàn ông thường giả vờ như họ không nghe thấy bạn nói gì khi họ bận rộn làm việc hoặc chơi trò gì đó. Đó là cách để họ thoát ra khỏi các cuộc hội thoại mà họ không muốn.

18. Cánh mày râu không thích kể lể chuyện họ đang khúc mắc vấn đề nào đó với người họ yêu.

19. Hầu hết tất cả các chàng trai đều nghĩ họ thực sự mạnh mẽ. Họ ghét phải gặp bác sĩ và thậm chí việc khám bệnh còn làm cho họ cảm thấy suy yếu thêm.

20. Khi bạn nói điều này để bóng gió tới một điều khác, đàn ông sẽ không hiểu. Tốt nhất là hãy nói thẳng với họ.

21. Trong tất cả những điều đàn ông mong muốn trong một mối quan hệ, khao khát lớn nhất của họ là được tôn trọng. Khi được bạn gái tôn trọng, họ sẽ càng yêu bạn hơn.

22. Đối với một chàng trai, người cha chính là người ảnh hưởng đến hành vi, cách sống của anh ta nhiều nhất, trừ khi họ có mối quan hệ không tốt với cha mình.

23. Phái mạnh dễ bị tổn thương trong chuyện tình cảm. Thậm chí họ bị tổn thương nhiều hơn cả phụ nữ, có điều họ không thể hiện hoặc cố gắng kiềm chế.

24. Đàn ông thường là người dễ lôi kéo, vận động người khác. Tuy nhiên, họ lại ghét bị lôi kéo vào làm một việc gì đó.

25. Con đường ngắn nhất đi đến trái tim người đàn ông là thông qua cái dạ dày. Điều này luôn luôn đúng. Vì vậy, muốn các chàng si mê mình, cách đơn giản là các cô gái hãy học nấu những món ăn ngon.

26. Đàn ông cảm thấy không có vấn đề gì nếu bắt gặp người yêu/vợ anh ta xem phim khiêu dâm. Trên thực tế, họ thậm chí còn cảm thấy bị kích thích khi bước vào phòng mà thấy bạn đang xem thể loại phim đó.

27. Nếu bạn gặp một bạn trai thân của người yêu để tra hỏi anh ta về sự lừa dối của người yêu bạn hiện tại thì anh ta sẽ nói dối và bao che cho người bạn của mình. Trừ khi đó là người thích bạn thì bạn mới có hy vọng nhận được câu trả lời thành thật.

28. Đàn ông thích giúp đỡ các cô gái xinh đẹp, bởi họ quan niệm đó là hành động thể hiện sự nam tính.

29. Các chàng chắc chắn sẽ xao động nếu một cô gái hấp dẫn vô tình có cử chỉ động chạm vào anh ta khi ở cự ly gần.

30. Đàn ông có thể trở thành những kẻ lãng mạn đích thực nếu cô gái mà họ thích chơi khó họ trong việc tiếp cận.