NGỤ NGÔN

Ta bạt mạng kéo theo người bạt mạng

Nên cơn vui thường kéo theo cực hình

Nên tương lai bằn bặt ở lòng mình

Nên bất hạnh ngập đầu ai vô tội

Người mới lớn cửa hồn chưa bám bụi

Vội vàng chi mở rộng cánh tin yêu ?

Biết đâu ta lẩn quẩn một đời, liều

Chuyên đội lốt thánh nhân đi ... lường gạt

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Đại cao thủ - Nakajima Atsushi



03/23/2012 05:51 am
Những bức tranh trắng (1951) của Robert Rauschenberg và tác phẩm 
 YouTube - John Cage - 4'33" by David Tudor
 (1952) của John Cage được bàn luận trên talawas blog vừa qua khiến 
người dịch (N.D.) nhớ lại truyện ngắn “Đại cao thủ” (1942) của nhà văn Nhật Bản Nakajima Atsushi. Xin trân trọng giới thiệu bản dịch truyện ngắn này từ nguyên tác tiếng Nhật.

Thành Hàm Đan kinh đô nước Triệu có một người đàn ông tên là Kỷ Xương nuôi chí trở thành tay cung đệ nhất thiên hạ. Trong khi tìm thầy, chàng được biết rằng, về ngạch cung tên hiện nay, không ai sánh được với danh thủ Phi Vệ. Nghe đồn cao thủ này có thể bắn bách phát bách trúng một cái lá liễu cách xa một trăm bước. Kỷ Xương lên đường tới yết kiến Phi Vệ, xin làm học trò của ông ta.

Phi Vệ bảo môn sinh mới của mình rằng trước tiên phải học làm sao không chớp mắt. Kỷ Xương quay về nhà, chui xuống nằm ngửa dưới khung cửi của vợ, mắt dán sát vào cái bàn đạp liên tục nâng lên hạ xuống, cố tập không chớp. Vợ chàng không hiểu nguyên do, rất đỗi ngạc nhiên. Nàng bối rối khi thấy chồng nhìn mình trừng trừng từ một góc độ kỳ cục như vậy. Nhưng Kỷ Xương mắng vợ, bắt nàng tiếp tục dệt. Ngày này qua ngày khác, Kỷ Xương cứ nằm trong cái tư thế kỳ quái đó, tập không chớp mắt. Sau hai năm, mặc cho cái bàn đạp chuyển động sát sạt, cạo đứt cả lông mi, Kỷ Xương đã luyện được nhìn mà không hề chớp mắt. Cuối cùng chàng bò ra khỏi khung cửi. Từ đó, ngay cả nếu bị dùi nhọn chọc vào mí mắt, chàng cũng không chớp mắt nữa. Chàng cũng không chớp mắt khi có tia lửa bất ngờ loé vào mắt. Cả một đám tro thình lình bốc lên ngay trước mắt cũng không làm chàng chớp mắt. Cứ như thể cơ mí mắt của chàng đã quên mất phải chớp như thế nào. Ban đêm, thậm chí khi Kỷ Xương ngủ say như chết, mắt chàng vẫn mở trừng trừng. Cuối cùng, khi một con nhện nhỏ chăng tơ giữa hai hàng lông mi mắt của chàng, chàng cảm thấy tự tin hoàn toàn để thông báo với Phi Vệ sư phụ.

Sau khi nghe, Phi Vệ nói: “Chỉ biết không chớp mắt thôi thì chưa đủ. Tiếp theo là phải học nhìn. Khi nào con học được cách nhìn chăm chú sao cho các vật bé nhỏ thấy như vĩ đại, các vật li ti trở thành rõ mồn một, thì hãy lại đến gặp ta.” Kỷ Xương lại quay về nhà, bắt được trong đường chỉ khâu áo lót một con chấy, buộc nó vào một sợi tóc, đem treo dưới cửa sổ hướng nam, rồi nhìn nó suốt ngày. Chàng nhìn con chấy treo dưới cửa sổ ngày này qua ngày khác. Lúc đầu, tất nhiên đó chỉ là con chấy. Hai ba ngày sau, nó vẫn là con chấy. Tuy nhiên sau mười ngày, con chấy có vẻ như to ra. Hết tháng thứ ba thì rõ ràng nó trông to như con tằm. Thời gian trôi qua, phong cảnh ngoài cửa sổ treo con chấy cũng thay đổi. Ánh mặt trời dịu dàng của mùa xuân đổi thành nắng hè oi bức, bầu trời mùa thu trong trẻo đầy ngỗng trắng bay trên cao chuyển sang vòm trời mùa đông màu tro u ám, lốm đốm tuyết ướt. Kỷ Xương vẫn kiên nhẫn nhìn con động vật chân đốt treo dưới cửa sổ. Con chấy này chết, chàng thay bằng con khác, cứ thế hàng chục con. Thấm thoắt ba năm trôi qua. Cho đến một hôm chàng bỗng nhận ra rằng con chấy treo dưới cửa sổ trông đã to bằng con ngựa. Xong rồi! Chàng sung sướng vỗ đầu gối, chạy ra ngoài đường. Chàng không tin vào mắt mình nữa: người trông cao lớn như toà tháp, ngựa to tựa trái núi, lợn bằng quả đồi, gà qué bằng cái chòi canh. Chàng nhảy cẫng lên, chạy lộn vào nhà, tới trước con chấy treo dưới cửa sổ, lắp một mũi tên làm bằng cọng cỏ sóc bồng vào một cây cung bằng sừng, nhằm con chấy và bắn. Lạ kỳ thay, mũi tên xuyên trúng tim con chấy mà không làm đứt sợi tóc.

Kỷ Xương ngay lập tức đến gặp sư phụ để báo tin. Phi Vệ đấm ngực, nhảy lên khen: “Thế là con đã làm được rồi!” Ngay sau đó, Phi Vệ bắt đầu dẫn dắt Kỷ Xương khám phá mọi bí mật của nghệ thuật nghề bắn cung. Kỷ Xương, đã trải qua năm năm rèn luyện cơ bản về nhìn, tiến bộ nhanh chóng kỳ lạ. Sau mười ngày, chàng đã có thể bắn bách phát bách trúng một cái lá liễu từ khoảng cách một trăm bước. Sau hai mươi ngày, chàng đặt một li nước đầy đến mép lên khuỷu tay phải, giương cung, bắn trúng đích mà nước trong li không nhểu ra ngoài một giọt. Sau một tháng, chàng thử bắn thật nhanh một trăm mũi tên. Mũi tên thứ nhất vừa cắm vào đích, mũi tên thứ hai đã bay tới cắm vào đuôi mũi tên thứ nhất. Ngay lập tức mũi tên thứ ba cắm vào đuôi mũi thứ hai, và cứ thế liên tục. Không mũi tên nào rơi xuống đất, vì mũi tên nào cũng cắm trúng đuôi mũi tên trước nó. Khi chàng bắn xong phát cuối cùng, một trăm mũi tên nối đuôi nhau như một chiếc tên duy nhất dài từ đích tới chiếc cung, và đuôi của mũi tên cuối cùng trông như còn đang mắc vào dây cung. Sư phụ Phi Vệ, đứng nhìn bên cạnh, thốt lên: “Được!”

Hai tháng sau, Kỷ Xương tình cờ về thăm nhà, và cãi lộn với vợ. Để dọa vợ, chàng giương chiếc cung bằng gỗ dâu nhằm vào mắt nàng, bắn một mũi tên bằng trúc. Mũi tên bay lướt sát mắt, cắt đứt ba sợi lông mi, song vợ chàng không hay biết gì, không hề chớp mắt, và vẫn tiếp tục nhiếc móc chồng. Tài nghệ và tốc độ bắn cung của chàng đã đạt tới mức tinh diệu.

Không còn gì để học từ sư phụ nữa, Kỷ Xương đột nhiên le lói có tư tưởng xấu. Suy đi tính lại, chàng thấy giờ đây về môn bắn cung chàng không còn địch thủ nào khác ngoài chính Phi Vệ sư phụ. Để trở thành cao thủ đệ nhất thiên hạ chàng phải tìm cách loại Phi Vệ. Thế là chàng bắt đầu bí mật tìm cơ hội. Cho đến một hôm, trong khi đang đi dạo ngoài đồng, bất chợt chàng thấy Phi Vệ một mình từ xa tiến lại. Sau một thoáng quyết định, Kỷ Xương rút tên, lắp vào cung, nhằm vào sư phụ. Phi Vệ, đoán được ác ý của học trò, cũng ngay lập tức lắp tên, giương cung nhằm vào Kỷ Xương. Cả hai thày trò cùng bắn một lúc. Hai mũi tên đâm vào nhau ở giữa đường, rơi xuống đất mà không có tí bụi nào bay lên. Tài nghệ của cả hai đều đạt tới mức siêu phàm. Họ cứ bắn nhau như thế liên tiếp hết phát này đến phát khác cho đến lúc Phi Vệ hết tên, Kỷ Xương vẫn còn một mũi. Lợi dụng dịp may, Kỷ Xương bắn ngay phát tên cuối cùng. Nhanh như chớp, Phi Vệ nhổ một cành hồng dại bên vệ đường, bắn rụng mũi tên xuống đất. Hy vọng thực hiện mưu đồ đen tối của mình đã tiêu tan, Kỷ Xương bỗng dưng thấy lòng tràn đầy hối hận. Về phía mình, Phi Vệ thở phào vì đã thoát khỏi hiểm nghèo, đồng thời thấy thoả mãn về tài nghệ của chính mình đến quên cả tức giận. Cả hai thày trò lao vào ôm chầm lấy nhau giữa cánh đồng và cùng rơi lệ (Chuyện này xem ra có vẻ kỳ cục theo đạo đức ngày nay. Khi Tề Hoàn Công muốn thưởng thức món mỹ vị mà chưa ai từng nếm thử, quan đầu bếp đã nướng luôn con trai mình đem dâng vua. Cậu thiếu niên 16 tuổi, Tần Thủy Hoàng Đế, ngay trong đêm vua cha mất, đã cưỡng hiếpái thiếp của vua cha ba lần. Câu chuyện này cũng đã xảy ra trong thời đại như vậy.)

Mặc dù vừa ôm Kỷ Xương vừa khóc, Phi Vệ rất lo ngại học trò sẽ lại tấn công mình lần nữa. Vì thế ông ta tìm cách hướng Kỷ Xương tới một mục đích mới để phấn đấu. Ông nói với gã đệ tử nguy hiểm của mình rằng ông không còn gì để dạy cho chàng nữa. Ông còn nói nếu chàng muốn đạt tới bí mật sâu xa của cung thuật thì hãy đi về phía Tây, vượt qua vách núi Đại Hành, leo lên đỉnh ngọn Hoắc Sơn, nơi ẩn dật của Cam Dăng lão sư – đại cao thủ cung thuật của mọi thời đại. “So với tài nghệ của lão sư, cung thuật của chúng ta chỉ là trò chơi của trẻ con,” Phi Vệ nói. “Giờ đây, ngoài Cam Dăng sư phụ ra, không ai có thể làm thầy con được nữa.”

Kỷ Xương lập tức lên đường đi về phía Tây. Lòng tự ái của chàng bị tổn thương khi thấy cung thuật của mình bị coi là “trò trẻ con”. Nếu thực sự như vậy, mục đích trở thành tay cung đệ nhất thiên hạ vẫn còn là một tương lai xa vời. Nôn nóng so tài với người đó để xem cung thuật của mình có đúng chỉ là trò trẻ con không, chàng rảo bước đi thật nhanh. Thủng giầy rách chân trèo lên các vách đá treo leo, băng qua những chiếc cầu khỉ bắc ngang hẻm núi, Kỷ Xương lên tới đỉnh núi sau một tháng.
Ra đón chàng trai hăng hái là một cụ già có đôi mắt hiền như mắt cừu, bước đi lẩy bẩy như sắp ngã. Cụ có lẽ đã ngoại trăm tuổi. Lưng cụ còng thấp khiến chòm râu bạc kéo lê trên mặt đất theo bước đi của cụ. Thấy cụ có vẻ như bị điếc, Kỷ Xương vội cất cao giọng nói mục đích vì sao chàng tới đây. Nôn nóng phô diễn tài bắn cung của mình, Kỷ Xương không đợi cụ trả lời, rút ngay cây cung làm bằng gốc liễu có dây bện bằng sợi gai đang đeo trên lưng ra. Chàng lắp một chiếc tên có mũi làm bằng đá, giương cung, ngắm vào một đàn chim di trú đúng lúc đó đang bay qua trên trời cao. Chàng buông dây, một phát tên phóng lên, ngay lập tức năm con chim to từ trên trời xanh rơi xuống.

“Giỏi theo cách thông thường,” cụ già mỉm cười hiền từ nói. “Nhưng đó chẳng qua vẫn chỉ là xạ chi xạ (bắn bằng bắn) thôi. Hảo hán xem ra vẫn chưa biết thế nào là bất xạ chi xạ (bắn không cần bắn).” Cụ già dẫn Kỷ Xương đang đầy tức tối tới một bờ vực cách đó chừng hai trăm bước. Dưới chân Kỷ Xương mở ra một quang cảnh giống y chang một bức bình phong dựng đứng cao bốn ngàn thước, ở xa tít bên dưới chàng thấy một con suối trông nhỏ như sợi chỉ, một độ cao khiến chàng đột nhiên hoa mày chóng mặt. Cụ già chạy lên một phiến đá chênh vênh nhô ra trên bờ vực, rồi quay lại bảo Kỷ Xương: “Nào, có giỏi thì hãy đứng trên tảng đá này trổ tài cho ta xem.” Đã quá muộn để rút lui! Khi Kỷ Xương leo lên, tảng đá lắc lư. Kỷ Xương cố giữ bình tĩnh lắp tên vào cung. Đúng lúc đó một viên sỏi lăn ra, rơi xuống vực. Nhìn theo viên sỏi rơi, Kỷ Xương nằm bò lên tảng đá lúc nào không hay. Chân chàng run bần bật, mồ hôi tuôn ra chảy tới gót chân. Cụ già cả cười, đưa tay đỡ Kỷ Xương bước khỏi tảng đá, rồi tự mình leo lên, nói: “Bây giờ hãy xem cái gọi là bắn đây này.” Vẫn chưa hết run, mặt tái nhợt, song Kỷ Xương chợt nhận ra và hỏi: “Nhưng, còn cái cung? Lão nhân không có gì trong tay cả.” “Cung à?” Cụ già cười lớn, “Bắn mà vẫn phải cần đến cung tên thì chỉ là xạ chi xạ. Còn bất xạ chi xạ là bắn nhưng không cần cả cung lẫn tên.”

Lúc đó trên trời rất cao ngay phía trên đầu họ một con diều hâu đang dang cánh lặng lẽ lượn vòng. Cụ già Cam Dăng nhìn theo con diều hâu trông nhỏ xíu chỉ bằng một hạt vừng, rồi nhanh như cắt, lắp một mũi tên tưởng tượng vào một cây cung vô hình, giương tròn như trăng rằm và buông tay, nhìn kìa, con diều hâu ngừng vỗ cánh, rơi xuống chẳng khác gì một hòn đá. Kỷ Xương kinh hoàng. Lần đầu tiên chàng được chứng kiến bí mật uyên thâm nhất của nghệ thuật bắn cung.
Kỷ Xương ở lại học lão cao thủ trong suốt chín năm trời. Không ai biết chàng đã tu nghiệp như thế nào trong quãng thời gian đó. Sau chín năm, khi chàng xuống núi trở về, mọi người thảy đều ngạc nhiên thấy vẻ mặt chàng đã biến đổi nhiều. Không còn tí bóng dáng nào của vẻ hiếu thắng hung hăng trước kia. Thay vào đó là dung mạo ngây ngô như tượng gỗ của một người ngu độn. Tuy nhiên, khi Kỷ Xương đến thăm thầy cũ, sau bao năm không gặp, thoạt nhìn thấy vẻ mặt Kỷ Xương, Phi Vệ đã cảm thán kêu lên: “Đây chính là đại cao thủ đệ nhất thiên hạ! Chúng ta sẽ không bao giờ có thể bì kịp anh ta.

Dân thành Hàm Đan nô nức chào đón cao thủ đệ nhất thiên hạ trở về. Họ chờ đợi một cuộc trình diễn tài nghệ bắn cung của chàng. Nhưng Kỷ Xương không đáp ứng nguyện vọng của họ. Ngay cái cung chàng cũng không sờ đến. Có vẻ như chàng đã quăng đi đâu mất cả chiếc cung làm bằng gốc liễu có dây bện bằng sợi gai mà khi xưa chàng từng đem theo lên núi. Khi có người tới chơi hỏi lý do, Kỷ Xương uể oải trả lời: “Tột đỉnh của hành động là không làm gi hết. Tột đỉnh của lời nói là im lặng. Tột đỉnh của bắn là không bắn.” À ra thế! Những người dân vốn rất thông thái của thành Hàm Đan hiểu ngay lập tức. Nhà đại cao thủ không cần sờ đến cây cung đã trở thành niềm tự hào của họ. Kỷ Xương càng không động đến cung tên, danh tiếng về sự vô địch của chàng lại càng được bàn tán ầm ĩ.

Nhiều lời đồn được truyền miệng từ người này sang người khác. Người ta nói rằng ban đêm, cứ đến canh ba, có ai đó luyện cung trên mái nhà Kỷ Xương, nghe rõ cả tiếng dây cung bật. Có người quả quyết đó là vị thần hộ mệnh ẩn náu trong mình nhà đại cao thủ, ban đêm thoát ra khi chàng ngủ để triệt mọi yêu ma định hãm hại chàng. Một thương nhân sống gần nhà chàng nói rằng có đêm đã thấy chàng, rõ ràng cầm cung trong tay, cưỡi mây bay trên mái nhà, đọ tài với hai bậc đại cao thủ xạ thuật đời xưa là Hậu Nghệ và Dưỡng Do Cơ. Những mũi tên ba vị này phóng ra vạch những tia sáng xanh sắc nhọn trên nền trời đêm trước khi biến mất giữa sao Sâm và sao Thiên Lang. Một tên đạo tặc thú nhận có lần định lẻn vào nhà Kỷ Xương, song khi hắn vừa trèo lên bờ tường thì bỗng một luồng sát khí từ trong nhà phóng ra, trúng vào giữa trán, làm hắn ta ngã lăn từ trên tường xuống đất bất tỉnh. Từ đó, bọn tâm địa gian tà đều tránh xa vùng quanh nhà Kỷ Xương, và những bầy chim di trú thông minh cũng không dám bay trên mái nhà chàng nữa.

Danh tiếng lan truyền tận mây xanh, song Kỷ Xương ngày một già đi. Tâm trí đã từ lâu không còn vương vấn tới cung tên của ông có vẻ như ngày càng nhập vào cõi thanh khô, đạm bạc, hư ảo và yên tĩnh. Vẻ mặt vốn đã như tượng gỗ của ông nay lại mất cả mọi biểu hiện. Ông hầu như không cất tiếng. Cuối cùng, người ta không chắc ông còn thở hay không. Những năm cuối đời, lão cao thủ còn nói ông không phân biệt được đâu là mình đâu là người khác, không biết đâu là đúng đâu là sai. Đối với ông mắt cũng như tai, tai cũng như mũi, mũi cũng như mồm.

Bốn mươi năm sau khi từ biệt Cam Dăng sư phụ xuống núi, Kỷ Xương từ giã cõi đời, lặng lẽ như một làn khói. Trong bốn mươi năm cuối cùng ấy, ông không hề nhắc tới xạ thuật, nói chi sờ đến cung tên. Lẽ dĩ nhiên, là một người viết truyện, tôi muốn ông sắm một vai quan trọng trong một sự kiện kích động nào đó để chứng minh cho tài dụng cung siêu phàm của ông. Song, tôi không muốn bóp méo các sự thật đã được ghi trong sử sách. Thực sự là người ta không biết gì về những năm cuối đời ông, ngoài câu chuyện được lưu truyền sau đây.
Chuyện xảy ra khoảng một hai năm trước khi ông qua đời. Một hôm, Kỷ Xương đến chơi nhà một người bạn. Tại đây ông nhìn thấy một vật, mà ông nhớ đó là một dụng cụ song không thể nhớ nổi tên và công dụng của nó. Ông bèn hỏi chủ nhà tên dụng cụ đó là gì và nó được dùng để làm gì. Cho rằng khách hỏi đùa, chủ nhà cười to, làm ra vẻ không biết. Ông lão Kỷ Xương nghiêm nghị nhắc lại câu hỏi. Song chủ nhà không hiểu ý khách, vẫn bối rối cười trừ. Khi Kỷ Xương làm nghiêm nét mặt hỏi lại lần thứ ba thì vẻ kinh ngạc bắt đầu hiện ra trên mặt chủ nhà. Ông ta nhìn trân trân vào mắt Kỷ Xương. Sau khi tin chắc rằng khách không đùa, không điên, và tai mình nghe không nhầm, chủ nhà kinh hãi lắp bắp kêu lên: “Trời đất, thưa phu tử – cao thủ xạ thuật kim cổ vô song, ngài thật sự quên cả cái cung rồi sao? Quên cả tên gọi lẫn công dụng của nó?”

Sau đó ít lâu, tại thành Hàm Đan, hoạ sĩ giấu bút vẽ, nhạc công dứt đứt dây đàn, thợ mộc coi dùng thước là một sự sỉ nhục.

Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết..



Khổng Tử nói: “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy”.

Nhưng làm sao ta có thể biết ta không biết điều gì?
Thường thì ta biết ta biết điều gì—ví dụ nếu ta đã học nhạc 3 năm thì ta biết ta biết nhạc với kiến thức của người đã học nhạc 3 năm.
Nhưng nếu có một hành tinh như trái đất và một loại sinh linh gần giống người trên hành tinh đó, cách ta mấy trăm triệu năm ánh sáng. Chẳng ai biết sự hiệu hữu của hành tinh đó cả, thì làm sao ta biết là ta không biết đến hành tinh đó?
Có lẽ là một chú chim thì rất rành về cây cỏ và các con giun. Nhưng làm sao chú chim biết được gì về không khí, để mà nói “tôi không biết gì về không khí”?
Nàng ngồi đợi cơm 3 tiếng đồng hồ, và chàng về nhà là nằm vật ngay xuống giường nằm ngủ, và nàng nói “em đợi cơm từ 8 giờ tối”. Nếu đó là một người đàn ông vô cảm, làm sao anh ta biết được là anh ta vô cảm, chẳng biết gì về tình cảm phụ nữ cả.
Bạn không biết điều bạn không biết. You don’t know what you don’t know.
Chính vì vậy mà chúng ta thường thấy có rất nhiều người, kể cả chúng ta, có thể nói tràng giang đại hải với người khác về một vấn đề mà ta chẳng biết gì cả, vì ta không biết là ta không biết.
Cho nên chúng ta phải rất rất rất nhạy cảm về điều ta không biết.
Nếu người nào đó có kinh nghiệm về việc gì đó—như là một đầu bếp nói về cho gia vị vào thức ăn—và ta không rành việc bếp núc, thì nên nhận ra ngay là ta không biết gì về việc cho gia vị này, và ta đang ngồi trước thầy, và hãy học cho kỹ.
Nếu ta nói về một việc gì, và người nghe nhẹ nhàng bổ sung hay chỉnh sửa lời ta một chút, dù là rất nhẹ nhàng như gió thoảng (vì người ta lịch sự), thì ta nên nhạy cảm là ta có thể đang nói điều ta không biết.
Muốn nhạy cảm như thế, ta phải là người rất khiêm tốn, rất sẵn sàng học hỏi, và luôn luôn nhận bất cứ ai biết nhiều hơn mình trong một lĩnh vực là thầy của mình trong lĩnh vực đó.
Đó chính là không biết thì nói là không biết.
Không khó để thực tập. Chỉ cần khiêm tốn, hiếu học và nhạy cảm.
Chúc các bạn một ngày rất biết.
 Trần Đình Hoành

Ghét tội, yêu người có tội.


 


“Ghét tội, yêu người có tội” là một hình thức nói khác đi của “yêu người vô điều kiện”. Ghét tội trộm cắp, nhưng yêu người trộm cắp—ít nhất là thương cảm sự ngu dốt si mê của chúng hắn. (Nếu nói về ngu dốt si mê thì ta có thể thực sự thương cả loài người, chẳng loại trừ ai!).
Phân biệt điều xấu và người làm xấu, nhiều người không làm được, vì chúng ta thường quen cảm xúc theo nhãn hiệu—tôi ghét việc ăn cắp, ai mà bị tôi gắn nhãn hiệu “ăn cắp” là tôi cũng ghét luôn.
Nhưng thực sự là, ta không phân biệt điều xấu và người làm điều xấu được vì ta không muốn phân biệt, chứ không phải vì quá khó khăn để phân biệt. Ai trong chúng ta cũng đã từng phân biệt nhiều lần rồi.
Ví dụ: Ta có một đứa em nhỏ ta rất thương. Hắn dại dột sang nhà hàng xóm ăn trộm trái cam. Người hàng xóm nói cho ta biết. Và ta cho hắn mấy roi bỏng mông, giảng cho một bài thật dài. Nhưng trong lòng ta đương nhiên là vẫn rất thương em. Đó chính là ghét tội, nhưng yêu người có tội.
Ta chỉ cần đem kinh nghiệm này ra để ứng xử với thế giới bên ngoài.
Con người ai cũng bị hành hạ vì tham sân si. Đó là cái khổ của con người. Ai cũng tham sân si, không phải vì họ muốn tham sân si. Nhưng có lẽ đời sống trong xã hội con người có nhiều giành giật làm, cho mọi con người đều học được tham sân si trong môi trường xã hội. Chưa học được cởi bỏ tham sân si là khổ.
Nếu ta thấy được cái khổ đó của mọi con người, thì rất dễ cho ta thương cảm họ, dù họ là ai.
Chỉ cần ngồi “quán” kiếp sống của con người, những điều dại dột ngu dốt mà con người, kể cả chính ta, hay vướng phải, thì đương nhiên là ta phải thương con người và thương chính ta.
Nếu ta cảm thấy thương con người thì ta thương tất cả mọi người, không loại trừ ai. Đó là yêu người vô điều kiện.
Yêu mọi người, vô điều kiện, thật sự là rất dễ hơn ta tưởng.
Hãy nhìn sâu vào đời người mà thương con người.
Và vì thế, ta có thể ghét những điều ác, nhưng vẫn có thể tội nghiệp người làm ác.
Chúc các bạn một ngày yêu người có tội.
Trần Đình Hoành.

KHÔNG THOÁT LI ĐƯỢC CÕI TRẦN..

tạp văn của Lâm Ngữ Đường
chuyển ngữ : Nguyễn Hiến Lê


Vậy tình thế của loài người như vầy: chúng ta muốn sống nhưng phải sống trên trái đất này chứ không phải sống trên trời. Đừng để cho óc ta cất cánh bay bổng lên thế giới của các vị thần rồi mà quên khuấy kiếp trần đi.
Chúng ta đâu có bất tử như các vị thần? Chúng ta sẽ chết kia mà. Đối với ai muốn sống hoài, bất tử, thì cái đời người sáu bảy chục năm quả là ngắn ngủi, nhưng đối với người nào biết khiêm tốn một chút thì bấy nhiêu cũng khá dài rồi đấy. Trong bảy chục năm học hỏi được nhiều lắm chứ mà hưởng thụ cũng được nhiều lắm chứ. Sống bảy chục tuổi thì được nhìn thấy đời mình, đời con mình, đời cháu mình, thế là ba thế hệ ; được mục kích những cái ngu xuẩn và học những cái khôn của loài người trong ba thế hệ, nhiều đấy chứ! Người nào khôn thì tới cái tuổi đó, sau khi được chứng kiến biết bao sự thay đổi về thời trang, về phong tục, luân lí, chính trị, tất phải thỏa mãn lắm, đứng dậy ra về mà khen rằng: “Vở tuồng hay quá” trong khi bức màn từ từ hạ xuống.


Vì chúng ta trần tục, sinh trên cõi trần, nên không thể thoát li trần thế được. Trên cõi trần này chúng ta chỉ là những khách qua đường, nhưng như vậy có gì đâu để mà than thở? Dù cõi trần này chỉ là một khám đường u ám, thì cũng cứ chuẩn bị đời sống được chừng nào hay chừng đó; mà thực ra nó không phải là một khám đường, nó là một vũ trụ cực đẹp đẽ để tiếp đón ta trong già nửa một thế kỉ; không tận lực chuẩn bị đời sống của ta cho được mĩ mãn thì chẳng hóa ra ta là người vong ân bạc nghĩa ư? Đôi khi chúng ta tham lam quá, tỏ vẻ miệt thị trái đất tầm thường mà lại rất khoan hồng, nhân từ này. Đáng lẽ chúng ta phải có cảm tình, phải thực tâm yêu mến bà Mẹ của vạn vật đó chứ, phải quyến luyến với cái nơi mà ta gởi tạm cái thể xác cùng tinh thần của ta đó chứ.


Ta nên như Thoreau – một nhà văn Mĩ theo chủ nghĩa tự nhiên ở thế kỉ 19 – coi mình như đồng loại với trái đất và cũng như trái đất, gặp mùa đông thì cứ nhẫn nại đợi một tia nắng xuân. Dù sao, trần thế mới là chân thực, thiên đường chỉ là hư ảo: được sinh ở giữa cái khoảng chân thực và hư ảo đó, quả là hạnh phúc cho loài người.


Bất kì một triết lí thực tế, lương hảo nào cũng phải thừa nhận rằng chúng ta có một thể xác. Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng mình là loại động vật; từ khi có những tấn bộ về khoa sinh vật học, nhất là về khoa sinh-hóa học (sinh vật và hóa học) thì điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Khốn thay, các vị “sư”, các triết gia của ta lại thuộc vào cái giới mệnh danh là tri thức, mà các nhà tri thức lại tự hào về cái tinh thần của họ cũng như các bác thợ giày tự hào về miếng da họ dùng. Đôi khi các nhà đó cho danh từ “tinh thần” chưa được mắc mỏ, trừu tượng mà dùng những danh từ “tinh túy”, “linh hồn” và viết bằng chữ hoa để nhát ta. Thế là trong cái xưởng học thuật, thân xác con người đã biến thành tinh thần, rồi kết đặt lại thành “tinh túy”, nhưng người ta quên rằng ngay như chất rượu kia, sở dĩ ta uống được là vì nó có một “thực thể”, chứ nếu chỉ có “tinh túy” không thôi thì làm sao uống cho vô . Và bọn phàm nhân tội nghiệp chúng ta lại phải uống cái “tinh túy ngưng tụ ” đó. Cái thái độ quá trọng tinh thần đó thật là tai hại, làm cho người ta không nhận thức được đầy đủ bản chất con người. Sở dĩ nó phát sinh là vì người ta không hiểu rõ về sinh vật học, tâm lí học, về nghĩa vụ của ngũ quan, của cảm xúc và nhất là của bản năng trong đời sống. Con người đã do nhục thể và tinh thần tạo thành thì nhiệm vụ đầu tiên của triết học là phải trỏ cho ta rằng hai phần đó điều hòa nhau.

Con Rối Muốn Làm Người..



 
Ngày nảy ngày nay tại một thành phố xinh đẹp, có một con rối tóc dài mượt như nhung, đôi mắt to tròn, cái miệng dễ thương luôn cười rất xinh xắn. Con rối xinh xắn đó tên là ... À, mà không biết cũng được, đâu có gì quan trọng đâu.

Con rối đi theo đoàn rối biểu diễn ở khắp nơi. Ở mỗi nơi nó mang một cái tên khác nhau, một cái vai khác nhau. Ở mỗi nơi nó đều được người ta yêu thích và hoan nghênh nhiệt liệt.

Một hôm, con rối nằm mơ thấy một vị thần nói với nó rằng:

"Này con rối, con đã sống rất tốt trên đời, con có thể trở thành ngừơi đấy, con có muốn làm người không?"

Con rối trả lời:

- Con muốn làm người.

"Vậy thì con hãy để ngừơi ta gọi tên thật của con, tên con là ... Đó là một cái tên mà rất nhiều người cho là xấu xí, nhưng chỉ cần người khác gọi tên con và yêu thương cái tên đó thì con sẽ trở thành người"

Con rối trả lời :

- Nhưng cái tên đó làm sao người ta chịu gọi tên con ? Sao ngài không cho con một cái tên khác ?

Vị thần trả lời "Tên con do số phận đặt, không phải ta". Nói rồi, Ngài biến mất.

Năm này qua năm khác, con rối cười, con rối khóc, con rối cử động dưới những sợi dây. Con rối kết bạn với những con rối khác và những con người, thân có, sơ giao có, nhưng cũng không ai biết đến tên thật của nó. Nhưng con rối luôn muốn làm người.

Đến một ngày, con rối quyết định nói cho người ta nghe tên của mình. Con rối đến bên cô bé bán kem - bạn thân của con rối hơn một năm qua và nói rằng:

- Cô bé bán kem ơi, tôi đã chơi với cô hơn một năm rồi, nhưng cô chưa bao giờ biết đến tên thật của tôi. Bây giờ tôi muốn cô biết.

Cô bé bán kem dù ngạc nhiên nhưng vẫn mỉm cười trả lời:

- Bạn rối hãy nói cho tôi nghe tên của bạn đi. Tôi là bạn thân của bạn, tôi muốn biết tên của bạn.

- Nhưng tên của tôi có thể cô bé sẽ thấy xấu lắm...

- Có gì đâu! Dù xấu như thế nào đi nữa chẳng phải bạn luôn là bạn tôi sao? Bạn cứ nói đi, đừng ngại...

Con rối chăm chú nhìn cô bé, rồi khẽ ghé miệng sát vào:

- Tên tôi là...

- Aaaaaaaaaaaaaaaa... - Cô bé bán kem hoảng hốt, khuôn mặt xanh xao và bất thần.

Rồi cô bé bán kem xa dần, xa dần, không còn nói chuyện với con rối nữa. Cô bé bán kem xem con rối như là quái vật. Con rối buồn... buồn lắm. Nhưng con rối không bỏ cuộc vì nó không muốn cô đơn, nó muốn có người gọi tên của nó. Nó muốn có ngừơi yêu thương nó và cái tên ấy. Nó muốn được làm người.

Một ngày kia, con rối đến bên người chăn bò - bạn thân của con rối đã năm năm và nói rằng:

- Anh chăn bò ơi, tôi và anh đã làm bạn năm năm rồi nhưng chưa bao giờ anh biết đến tên thật của tôi. Tôi muốn nói cho anh nghe vì tôi muốn có người gọi tên tôi.

Người chăn bỏ dù ngạc nhiên nhưng vẫn mỉm cười trả lời:

- Bạn hãy nói đi. Tôi là bạn của bạn, tôi muốn biết tên thật của bạn lắm.

- Nhưng tên của tôi có thể anh sẽ thấy xấu lắm...

- Có gì đâu! Dù xấu như thế nào đi nữa chẳng phải bạn luôn là bạn tôi sao ? Bạn cứ nói đi, đừng ngại...

Con rối chăm chú nhìn người chăn bò, rồi khẽ ghé miệng sát vào:

- Tên tôi là...

Ngừơi chăn bò cũng ít nói chuyện dần, rồi xa dần, xa dần con rối. Người chăn bò xem con rối như là quái vật. Con rối buồn... buồn lắm.

Bạn bè của con rối bảo "Mày đừng nói cho người ta biết tên thật nữa, người ta rồi sẽ bỏ rơi mày, khinh miệt mày như chúng tao mà thôi". Một con rối khác nói "Mày không thể làm người được đâu". Nhưng con rối không bỏ cuộc vì nó không muốn cô đơn, nó muốn có người gọi tên của nó. Nó muốn có người yêu thương nó ngay cả khi biết đựơc cái tên. Nó muốn được làm người.

Con rối đến bên người cha đã tạo ra nó và nói rằng:

- Cha ơi, cha đã tạo ra tôi, cha đã cho tôi hình hài này, vóc dáng này, từ con mắt đến bàn tay. Cha đã nuôi tôi, đã cho tôi những vai diễn. Tôi cám ơn cha nhiều lắm. Tôi yêu cha nhiều lắm. Tôi muốn nói cho cha nghe tên thật của mình.

Người tạo ra con rối ngạc nhiên và bảo:

- Tên thật? Không phải ta đã đặt cho con một cái tên sao? Tên của con là ...

Con rối lắc đầu:

- Không phải đâu cha ơi! Đó là tên cha đặt, còn tên mà số phận đặt cho tôi không phải như thế.

Người tạo ra con rối nheo mắt suy nghĩ rồi ôm lấy con rối vào lòng:

- Thế tên thật mà số phận đã đặt cho con là gì, con của ta?

- Nhưng tên của tôi có thể cha sẽ thấy xấu lắm...

- Dù xấu như thế nào đi nữa thì con vẫn là con của ta, ta là người đã sinh ra con, cho dù tất cả mọi người có bỏ rơi con thì ta vẫn còn đó.

Con rối chăm chú nhìn người đã tạo ra nó, rồi khẽ ghé miệng sát vào:

- Tên của tôi là ...

Người tạo ra con rối lên tim và ngất xỉu ngay tại chỗ. Sau khi được người ta cấp cứu và dưỡng bệnh một thời gian, ông dù rất yêu thương và rất nhớ con rối nhưng cũng không bao giờ muốn gặp nó, không bao giờ muốn nó bước chân vào nhà ông nữa. Ông không thể chấp nhận mình đã tạo ra một con rối như thế này. Ông xem con rối như một quái vật.

Con rối buồn lắm...

... và nó ra đi.

Con rối vẫn đi, nó cùng với những con rối khác diễn những vở diễn vĩ đại của cuộc đời. Nó đi rất nhiều nơi. Nó có rất nhiều tiền. Ở mỗi nơi nó mang một cái tên khác nhau, một cái vai khác nhau. Ở mỗi nơi nó đều được người ta yêu thích và hoan nghênh nhiệt liệt nhưng mà có ai biết đến tên của nó đâu. Và nó cũng không muốn người ta biết đến cái tên của nó nữa... một cái tên ai cũng cho là xấu xí.

Con rối vẫn cười bằng gương mặt người ta đã vẽ cho mình, vẫn diễn bằng những kịch bản mà người ta giao cho nó, nói những câu người ta thích nghe, làm những thứ người ta thích nhìn. Đôi khi nó cũng tự viết kịch bản cho mình nhưng đó là những kịch bản trong im lặng.

Ngày nảy ngày nay có một con rối, con rối có tên là ..... và mấy chục năm sống trên đời vẫn không ai gọi tên nó. 

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Luật Hấp Dẫn – David Childerley


08/10/2011 06:54 am

Dưới đây là một slideshow của David Childerley về Luật Hấp Dẫn (Law of Attraction).
Mình diễn giải Luật Hấp Dẫn như là một quy luật tâm lý con người. David Childerley và đa số mọi người khác diễn giải Luật Hấp Dẫn, đi theo quyển The Secret của Rhonda Byrne, như là một định luật vật lý năng lượng hay vật lý lượng tử. Mình cho rằng các vị này đều không có căn bản gi cả ngoại trừ tiếp thị, vì chẳng có ai chứng minh được Luật Hấp Dẫn là một định luật vật lý như các vị nói khơi khơi như thế, chẳng có một mảy may bằng chứng. Tuy vậy, cách trình bày Luật Hấp Dẫn như là một định luật vật lý rất dễ hiểu và dễ nhớ. Cho nên đọc cũng rất có lợi (nếu người đọc biết là vật lý ở đây cũng chỉ là một cách trình bày một định luật tâm lý).
Vì vậy mình post slideshow ở đây, kèm theo bài dịch tiếng Việt của mình.
Các bạn mang post ở các nơi khác, thì cũng nên post cả phần giới thiệu của mình, để mọi người nắm vững được sự khác biệt giữa tâm lý và vật lý.
Chúc các bạn môt ngày hấp dẫn.
Mến,
Hoành

Luật Hấp Dẫn

Tất cả chúng ta làm việc với một quyền lực vô hạn.
Tất cả mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo ra bởi năng lượng… kể cả chúng ta.
Chúng ta như là nam châm… và năng lượng hấp dẫn… năng lượng cùng loại.
Bất kì điều gì đang có trong trí của bạn… là điều bạn đang hấp dẫn vào cuộc đời của bạn… ngay lúc này!
Bạn trở thành và hấp dẫn… cái mà bạn suy nghĩ đến nhiều nhất.
Loại năng lượng mạnh mẽ nhất trong vũ trụ là… tư tưởng!
Ngay cả tư tưởng cũng có tần số… Tư tưởng truyền ra năng lượng nam châm thu hút những gì cùng loại cho năng lượng cùng loại.
Đây là thử thách… Tư tưởng trở thành vật thể!
Rất nhiều người nghĩ về điều họ không thích.. cho nên tự nhiên là họ hấp dẫn thêm các điều họ không thích.
Nếu tư tưởng của bạn lại dính liền với cảm xúc mạnh (dù tốt hay xấu)… điều đó tăng tốc tiến trình tạo dựng.
Hãy nhớ là bạn hấp dẫn tư tưởng của bạn… cho nên hãy chọn tư tưởng cẩn thận.
Bạn có để ý không? Những người hay nói về bệnh hoạn nhất thì có bệnh, những người hay nói về sung túc nhất thì sung túc.
Tư tưởng gây ra cảm xúc… cho nên điều gì bạn đang cảm xúc ngay lúc này chính là một phản ánh chính xác của điều đang trong tiến trình hình thành.
Và bạn sẽ có đúng cái bạn đang cảm xúc, cho nên cảm xúc hạnh phúc sẽ hấp dẫn thêm các trường hợp hạnh phúc.
Bạn có thể bắt đầu cảm xúc điều gì bạn muốn, ngay bây giờ… và vũ trụ sẽ đáp ứng đúng với bản chất của bản nhạc của bạn.
Và bất kì điều gì bạn tập trung vào, với tư tưởng và cảm xúc của bạn… là điều mà bạn sẽ hấp dẫn vào cuộc đời của bạn.
Hãy nhớ là… bạn sáng tạo thế giới của bạn trong từng bước đi… cho nên rất quan trọng là phải cảm xúc tốt tươi.
Cuộc đời thật là đáng kinh ngạc khi bạn áp dụng Luật Hấp Dẫn.
Vũ trụ thích vận tốc, cho nên đừng dùng dằng… đừng đoán tới đoán lui.. đừng nghi ngờ.
Khi cơ hội, cơn hứng hay linh tính có mặt… HÀNH ĐỘNG NGAY !
Và vũ trụ sẽ tự nó sắp xếp lại, chỉ cho bạn !
Lòng biết ơn… sẽ tạo thêm nhiều thứ trong đời bạn để bạn thêm biết ơn.
Hình dung ! Thực tập tương lai của bạn.
Hãy hình dung điều bạn muốn và cảm xúc cái cảm giác đã có được điều đó.
Hãy tập trung vào sự có, vào mục tiêu cuối cùng, và để mọi chuyện khác cho vũ trụ lo liệu.
Các khoa học gia ngày nay đã chứng minh được là một tư tưởng tích cực thì mạnh gấp trăm lần một tư tưởng tiêu cực.
Mỗi khi bạn có một tư tưởng tiêu cực… hãy nghĩ ngay đến một ký ức hạnh phúc hay một người bạn yêu,
Vì không ai có thể suy nghĩ và cảm xúc dùm bạn. Tất cả là bạn… chỉ là bạn !
Những điều bạn nghĩ đến thường xuyên có xứng đáng cho bạn hay không ?
Đùng phí năng lượng vào những tư tưởng tiêu cực, chỉ tập trung vào những điều bạn muốn mà thôi.
Và lôi sự chú ý của bạn ra khỏi những suy nghĩ về những điều bạn không thích.
Chỉ suy nghĩ về những gì mang đến cho bạn vui sướng, bởi vì điều này sẽ gia tăng dao động năng lượng của bạn ngay tức thì.
Rồi hãy quyết tâm duy trì dao động năng lượng cao đó, và đặt một mục tiêu cao đến nỗi trí óc bạn sẽ bùng vỡ nếu bạn đạt được nó.
Hãy hình dung là bạn đã đạt được mục tiêu đó, mỗi ngày 5 phút… vì bạn là người duy nhất tạo ra hiện thực của bạn… bạn thật sự là người duy nhất.
Hãy nhớ… tư tưởng biến thành vật thể… cho nên hãy luôn luôn nghĩ đến những điều tốt đẹp.
Hãy hành động ngay lúc này để thưởng thức cuộc đời bạn… hãy cho bạn tự do … bạn thật đáng kinh ngạc… bạn thật sự đáng kinh ngạc !
David Childerley
Trần Đình Hoành chuyển ngữ

CHUYỆN TÌNH CỦA NHỮNG BÁC SĨ TÌNH YÊU..


03/21/2012 05:51 am
Tình yêu vốn dĩ là điều trăn trở của con người từ thuở khai thiên lập địa, ngàn năm trước đến ngàn năm sau vẫn sẽ có người đau khổ, kẻ hạnh phúc vì nó. Nhưng với Alex Hitchens (Hitch), Mike Chadway (The ugly truth), Henry Roth (50 first dates) tình yêu chỉ như câu hát trong bài Yesterday của nhóm The Beatles “ … Love was such an easy game to play…”. Họ, những quý ông lịch lãm, sành sỏi tình trường, xem việc “chiếm” trái tim của một cô gái dễ như lấy đồ trong túi, cho đến một ngày, họ sực nhận ra từ thiếu sót trong câu hát của nhóm The Beatles. 


Những cao thủ trong trò chơi ái tình

Khi bạn để ý một người con gái, thì chỉ việc khiến người con gái ấy nhớ tới bạn, nhận ra bạn giữa một đám đông người cũng khiến bạn trăn trở, mất ăn mất ngủ. Nếu bạn hỏi Alex Hitchens (Phim Hitch) làm cách nào để gây ấn tượng với một cô gái, đặc biệt là những cô gái đẹp đang bị bao vây giữa những chàng trai, thì Alex sẽ không ngần ngại xen vào giữa đám con trai, nhét một cuộn tiền nhỏ vào cô gái và bảo:

“-Cho tôi 2 ly martin, cứ giữ lấy tiền thừa nhưng nhớ nhanh lên nhé. – Đoạn quay lưng bỏ đi một mạch.

-Này! Này ! – Cô gái hằn học đuổi theo Alex – tôi không phải là bồi bàn đâu nhé !

-Tôi biết – Alex cười đáp.

-Thế sao anh còn…

-Vì nếu không làm thế, làm sao tôi có thể kéo được cô ra khỏi mấy gã đang hau háu nhìn cô đằng kia.”


Cô gái đã cười bẻn lẻn trước vẻ hài hước mà thông minh của Alex, thứ mà cô không thấy khi ở những gã hay vây quanh cô. “Bác sĩ tình yêu” hay còn gọi là “ông mai” Alex Hitchens (Will Smith) nổi tiếng khắp New York với tài mai mối, se duyên mát tay của mình. Từ anh chàng diễn viên phụ say đắm cô đào chính, cậu bạn da đen mê mẩn cô bạn cùng lớp Yoga đến chàng tư vấn tài chính to béo, thô kệch thầm yêu một minh tinh màn bạc đều được Hitch giúp sức và thỏa ước nguyện. Tất cả là nhờ có khả năng quan sát tài tình, nắm bắt tinh tế tâm lý phụ nữ và có cả khả năng phát hiện những lời nói dối. Hitch quan niệm rằng: “Không kể là gì, bất kể khi nào, không kể là ai, mọi người đàn ông đều có thể có được người phụ nữ mình yêu mến. Chỉ cần dùng đúng cách thôi!”


Còn nếu bạn là một người phụ nữ đang rất “kết” anh bác sĩ hàng xóm đẹp trai, hãy nghe lời Mike Chadway (Phim The Ugly Truth).

“-Hắn gọi cho cô?

-Phải, trời ạ, giờ tôi phải làm sao đây, chúng tôi chỉ mới gặp mặt nhau tối qua.

-Bây giờ hãy giả vờ gọi nhầm tên ai đó, sau đó, bảo là cô bận, rồi để máy khoảng 1 phút, sau đó gác máy luôn ! Đảm bảo 20 giây sau hắn sẽ gọi lại.

-Cái gì?”

Mike đã khuyên Abby- cô đồng nghiệp xưa nay chỉ chăm chăm vào công việc như thế. Và thật bất ngờ, đúng là anh bác sĩ tỏ ra hết sức bất ngờ khi Abby nhận nhầm tên anh, rồi bị gác máy bất ngờ. Tiếng chuông điện thoại reo lên đúng 20 giây sau cũng là lúc Abby công nhận khả năng của Mike và bước vào bài huấn luyện để chinh phục anh chàng bác sĩ. Khác với Alex Hitchens, Mike hiểu rõ những ham muốn của đàn ông, và luôn sử dụng những hiểu biết đó để biến show truyền hình của anh trở thành show cực kì hấp dẫn với phụ nữ.


Cũng là một chuyên gia, nhưng không giống hai người kia, Henry Roth (phim 50 first date) là một chuyên gia trong những cuộc tình ngắn ngủi. Henry hẹn hò với những du khách cô đơn và cho họ một khoảng thời gian ngắn tuyệt vời trong tình yêu với đủ cách thú tiêu khiển làm hài lòng phụ nữ như tham quan thiên nhiên tuyệt đẹp, lặn dưới biển sâu, leo núi hay rơi tự do từ vách đá,… Và lần nào cũng vậy, sau khi đã để họ có những hồi ức tuyệt vời, Henry tìm cách chia tay để tránh ràng buộc bằng hàng loạt các lí do như đã có gia đình, là gay, sắp vào nhà dòng, hài hước hơn Henry nói mình là điệp viên phải nay đây mai đó nên không thể liên lạc để bảo vệ sự an toàn cho bạn gái. Henry đơn thuần là một kẻ không thích vướng bận, anh chỉ vui chơi trong những ngày chờ con tàu của mình được tu sửa.

“Yesterday… Love was such an easy game to play”

Đấy mới là câu hát đầy đủ trong bài hát của nhóm The Beatles. Cho đến một ngày kia, cả Alex, Mike, Henry mới nhận ra “trò chơi” mà họ thường thắng dễ dàng đã là chuyện của “ngày hôm qua” (yesterday), khi mọi thứ trở nên nghiêm túc, họ cũng ngớ ngẩn và lúng túng giống như những kẻ hay xin họ lời khuyên.

Vì một điều bí ẩn nào đó, nên dù không xinh đẹp nhất, cô ấy vẫn làm cho mọi người phụ nữ khác vô hình


Tên của những cô gái xinh đẹp mà Henry từng hẹn hò có thể lấp đầy cả bảng chữ cái, nhưng không biết điều gì ở Lucy khiến anh phát điên với những mơ tưởng, nhung nhớ của mình. Và từ lúc nào anh đến quán trà Hukilau mỗi buổi sáng để thấy Lucy ngồi đó, với mái tóc vàng xoăn rối bời, chiếc áo thun màu hồng giản dị, đọc sách và xếp những mẩu bánh nướng thành những ngôi nhà nhỏ…


Điều lạ là khi một người đánh đồng tình yêu với những ham muốn,dục vọng như Mike lại không thể rời mắt khởi điệu nhảy ngớ ngẩn của Abby mỗi khi có điều gì vui, lại ngượng ngùng trước trò tập tành quyến rũ đầy vụng về của cô. Và rồi cứ mỗi lần Mike chứng tỏ được cho Abby thấy quan điểm tình yêu của mình là đúng, mỗi bước Abby tiến đến với chàng bác sĩ hoàng hảo của cô theo những chỉ dẫn của anh, Mike lại thấy lòng hụt hẫng…


Vớt Hitch thì chẳng hiểu sao giữa một quán bar sôi động của New York, giữa hàng tá những phụ nữ gợi cảm khác, anh chỉ nhìn thấy mỗi cô phóng viên Sara ngồi một mình trong góc khuất, váy dài kín đáo, tóc búi cao hệt như vừa trờ về từ sở làm. Vậy là Hitch bước đến, với ly rượu mời trên tay và nổ lực mở cửa trái tim nàng.

Vì một điều bí ẩn nào đó, cô ấy biến mọi nguyên tắc trở nên vô nghĩa và làm mọi mánh lới trở thành trò cười


Quy tắc hẹn hò số một của Henry Roth là không để vướng bận và không bao giờ yêu người bản xứ. Thế nhưng với một cô gái bản địa bị mất trí nhớ ngắn hạn, một người không thể nhớ những điều hôm nay khi tỉnh giấc vào sáng mai, một người quá dễ để lợi dụng rồi ruồng bỏ, Henry lại tình nguyện làm chàng khờ si tình của Lucy. Thế nhưng chuyện đơn giản nhất là làm quen lại trở nên khó nhằn với chàng cao thủ tình trường này. Hàng loạt kịch bản được Henry thực hiện nhưng những cái kết thì bao giờ cũng bất ngờ và nhiều lần thảm hại. Hết dầm mưa trong vai người sửa đường, chịu đánh trong vai người bị cướp, bị bắt cóc, suýt nữa thì hại chết con chim cánh cụt cưng,… Thế nhưng tất cả những khổ cực, vất vả ấy đều được Henry đón nhận tự nhiên với cả lòng hồ hởi chỉ để được làm quen với Lucy mỗi ngày, được nói “Xin chào, tên tôi là Henry”.


Mike đề cao sự hấp dẫn và anh cố biến Abby thành hình mẫu phụ nữ lý tưởng nhất trong mắt đàn ông. Mike tư vấn cho Abby mọi thứ từ quần áo, kiểu tóc, điệu bộ nhằm biến cô gái công sở kiểu mẫu ấy thành một quý cô gợi cảm và nổi loạn. Nhưng đến khi Abby đã thực sự trở thành hình mẫu như Mike mong muốn, anh lại trượt dài, đôi mắt mất hút theo cánh cửa thang máy đóng sập lại khi Abby bước vào cuộc hẹn trong mơ với anh chàng bác sĩ


Với vô số những quy tắc, bí quyết lấy lòng phụ nữ, Hitch đã nổi danh khắp New York như một “bác sĩ hẹn hò” đã mai mối thành công cho vô khối “anh ế”. Nhưng rồi “bụt nhà không thiêng”, mọi “chiêu bài” Hitch tung ra để cưa đổ Sara đều khiến anh “thua đậm”, thậm chí là “lỗ vốn”. Hitch chu đáo lại vụng về đá văng nàng rơi xuống biển trong lần đi chơi moto nước, Hitch bảnh bao lại để nàng bắt gặp bộ mặt sưng vù đến dị dạng vì dị ứng thức ăn của mình và không ít lần tỏ ra ngớ ngẩn, lố bịch trước mặt nàng.

Tình yêu và những giá trị tinh khôi

Tình yêu có ngôn ngữ, có quy tắc của riêng nó… không có bí quyết nào để chinh phục nó ngoại trừ sự chân thực trần trụi, hồn nhiên của một trái tim chân thành.


Với Sara những chiêu thức, mánh lới của Hitch hoàn toàn không phải là sự dối trá bởi lẽ nó luôn xuất phát từ sự chân thành, từ tình yêu thật sự. Nó giống như quan điểm chọn khách hàng của Hitch “chỉ những ai có ý định nghiêm túc, lâu dài thì anh mới hợp tác”. Đứng trước Sara, Hitch không còn nhớ những chiêu bài anh hay khuyên khách hàng, anh chỉ có thể run rẩy, ngại ngùng đứng trước nhà Sara mà nói lên những lời tận đáy lòng. Và chỉ cần những điều đơn giản như thế, Sara mới chấp nhận Hitch chứ không phải những lời có cánh khác.



Một gã lang bạt, thích những mối quan hệ ngắn ngủi như Henry cuối cùng lại kiên nhẫn theo đuổi một Lucy mất trí nhớ. Cứ mỗi sớm bình mai, Henry lại chờ ở quán Hukilau, cố làm quen lại với Lucy, và rồi kiên nhẫn chờ Lucy yêu mình. Mỗi ngày trôi qua với Henry nó không còn là một trò chơi, nó trở thành một thách thức để cố chen chân, len lỏi vào cái trí nhớ “nhỏ bé” của Lucy, chỉ mong cô nhớ được anh, để anh được ở bên mà chăm sóc cô. Cũng không phải ngẫu nhiên, càng không phải trí nhớ đã hồi phục mà mỗi ngày trở về sau khi gặp Henry, Lucy lại hát vang giai điệu hạnh phúc của một bài hát. Không phải ngẫu nhiên, gần như là một kì tích, khi đã quyết định rời xa Henry để tránh làm gánh nặng cho anh và xóa sổ anh khỏi đầu óc mình, Lucy vẫn còn nhớ như in cái đầu hình quả trứng của người yêu. 



Tình yêu là một phép màu mới lạ đến cho cả hai phía, nó làm cả hai nhận ra nhiều điều mà bản thân ngộ nhận. Chìm đắm trong vòng tay của chàng bác sĩ, Abby chợt nhận ra, bác sĩ không hề thích cô, anh ta chỉ thích “hình mẫu mà những gã đàn ông tầm thường luôn thích” theo lời Mike. Với Mike, tình yêu không còn những nguyên tắc về hình mẫu, những thủ thật gây ấn tượng, giống như lời tỏ tình của anh dành cho Abby : “ Vâng, tình yêu đối với tôi nó thật kinh tởm, vì thế mà tôi lại yêu một người thần kinh, lắm điều, thích thuyết giáo, lúc nào cũng công việc… nhưng cũng vì cô là như thế, mà tôi yêu cô, chứ không phải bất kì hình mẫu nào khác”.

Tình yêu là một phạm trù to lớn với những bí ẩn mà có khám phá đến hết đời ta cũng không thể hiểu nỗi, bởi với trái tim thì đừng có lí sự, nó có lí lẽ riêng của nó. Chính vì thế mà không có một phương pháp, một quy tắc nào là bất biến, là luôn luôn hữu hiệu trong tình yêu. Chỉ có lòng chân thành, sự cao thượng mới có thể giúp bạn đến với người yêu mong đợi của mình. 

OSHO: Minh triết Tình yêu hay Tính Nữ thần thánh


Và đây là bí ẩn: nếu bạn yêu, đột nhiên bạn biết mọi người yêu bạn. Nếu bạn yêu vợ, cô ấy yêu bạn; nếu bạn yêu chồng, anh ấy yêu bạn; nếu bạn yêu con, chúng yêu bạn. Người yêu từ trái tim là được đáp ứng từ mọi nơi. 

Vũ trụ có yêu tôi không?
Mọi người có yêu tôi không?


Đó là hỏi câu hỏi sai. Bạn đáng phải hỏi theo cách đi vòng khác, "Tôi có yêu vũ trụ không?" bởi vì vũ trụ không phải là người. Nó không thể yêu bạn được. Nó không có trung tâm, hay bạn có thể nói "mọi nơi nó đều có trung tâm," nhưng đó là hiện tượng phi nhân tính. Làm sao sự tồn tại vô nhân tính yêu bạn được? Bạn có thể yêu.

Nhưng khi bạn yêu, vũ trụ đáp ứng - đáp ứng một cách tuyệt đối. Nếu bạn lấy một bước tới vũ trụ, vũ trụ lấy cả nghìn lẻ một bước tới bạn; nhưng đó là đáp ứng.
 
Sự thiêng liêng kỳ diệu của Tình yêu
Lão Tử nói: Bản tính của sự tồn tại là nữ tính. 

Đàn bà chờ đợi; cô ấy không bao giờ khởi đầu. Đàn ông phải đi và khởi đầu. Đàn ông phải tới và ve vãn và tán tỉnh và thuyết phục. Sự tồn tại mang nữ tính - nó chờ đợi. Bạn phải ve vãn nó; bạn phải tán tỉnh nó; bạn phải lấy thế chủ động và thế thì vũ trụ mưa rào lên bạn - mưa rào theo vô hạn cách, đáp ứng theo vô hạn cách thức. Cũng như đàn bà: khi bạn đã thuyết phục được cô ấy, cô ấy mưa rào xuống vô cùng.

Không đàn ông nào có thể là người thế như đàn bà có thể là. Đàn ông bao giờ cũng vẫn còn là người yêu một phần; toàn thể bản thể anh ta chưa bao giờ trong tình yêu. Đàn bà toàn bộ trong nó; nó là toàn thể cuộc sống của cô ấy, mọi hơi thở của cô ấy. Nhưng cô ấy chờ đợi. Cô ấy sẽ không bao giờ lấy bước khởi đầu, cô ấy sẽ không bao giờ săn đuổi bạn; và nếu đàn bà săn đuổi bạn - dù người đàn bà đẹp thế nào - bạn sẽ trở nên sợ cô ấy. Cô ấy có vẻ không có nữ tính. Cô ấy sẽ năng nổ tới mức toàn thể cái đẹp của cô ấy sẽ biến thành cái xấu. Đàn bà có tính thụ động. Nhớ từ này "thụ động", tính thụ động.

Vũ trụ là mẹ:
Gọi Thượng đế là "mẹ" bao giờ cũng tốt hơn là gọi "bố." Bố không liên quan thế. Vũ trụ là mẹ: nữ tính, chờ đợi bạn - chờ đợi bạn mãi mãi và mãi mãi - nhưng bạn sẽ phải gõ cửa. Bạn sẽ thấy ngay lập tức nó được mở nếu bạn gõ, nhưng nếu bạn không gõ bạn có thể đứng ở cổng. Sự tồn tại sẽ không mở đâu; nó không năng nổ. Ngay cả trong yêu nó cũng không năng nổ. Đó là lí do tại sao tôi nói nó sẽ đáp ứng.

Nhưng câu hỏi này nảy sinh; nó có liên quan tới tâm trí bạn. Đây là cách tâm trí con người vận hành: nó bao giờ cũng hỏi, "Người khác có yêu mình không?" Người đàn bà, người vợ hỏi, "Chồng có yêu mình không?" Chồng cứ hỏi, "Vợ, người đàn bà này, có yêu mình không?" Con cái cứ nghĩ, "Mẹ, bố có yêu mình không?" và bố mẹ cứ nghĩ liệu con cái có yêu họ không. 
Bạn bao giờ cũng hỏi về người khác. Bạn đang hỏi câu hỏi sai. Bạn đang đi theo hướng sai. Bạn sẽ bắt gặp bức tường; bạn sẽ không tìm ra cửa. Bạn sẽ cảm thấy đau vì bạn đâm vào tường. Chính lúc ban đầu là sai. Bạn bao giờ cũng phải hỏi, "Mình có yêu vợ không?" "Mình có yêu chồng không?" "Mình có yêu con không?" "Mình có yêu bố mình và mẹ mình không?"

Hãy tự hỏi mình: bạn có yêu không?


Và đây là bí ẩn: nếu bạn yêu, đột nhiên bạn biết mọi người yêu bạn. Nếu bạn yêu vợ, cô ấy yêu bạn; nếu bạn yêu chồng, anh ấy yêu bạn; nếu bạn yêu con, chúng yêu bạn. Người yêu từ trái tim là được đáp ứng từ mọi nơi. Yêu không bao giờ có thể là không kết quả. Nó nở hoa.

Nhưng bạn phải bắt đầu đúng, theo đường đúng; bằng không mọi người đều đang hỏi, "Người khác có yêu mình không?" và người khác cũng đang hỏi cùng câu hỏi đó. Thế thì không ai yêu, thế thì tình yêu trở thành chỉ là tưởng tượng, thế thì tình yêu biến mất khỏi trái đất - như nó đã xảy ra. Nó đã biến mất; nó tồn tại chỉ trong thơ ca của các nhà thơ - hư cấu, tưởng tượng, mơ. Thực tại là tuyệt đối trống rỗng tình yêu bây giờ, bởi vì bạn đã bắt đầu với câu hỏi sai.

Vứt câu hỏi đó như bệnh dịch. Vứt nó và trốn khỏi nó, và bao giờ cũng hỏi, "Mình có yêu không?' và điều đó sẽ trở thành chìa khoá. Với chìa khoá đó bạn có thể mở bất kì trái tim nào, và với chìa khoá đó, dần dần, bạn sẽ trở nên khéo léo tới mức bạn có thể mở chính sự tồn tại bằng chìa khoá đó;
thế thì nó trở thành lời cầu nguyện. 
Chỉ hỏi câu hỏi, "Vũ trụ có cầu nguyện cho mình không?" Thế thì điều đó sẽ có vẻ ngu xuẩn; thế thì nó sẽ có vẻ ngớ ngẩn. "Vũ trụ có cầu nguyện cho mình không?" - bạn thậm chí sẽ không hỏi điều đó; nhưng lời cầu nguyện không là gì ngoài việc nở hoa cao nhất của tình yêu.

Bạn cầu nguyện với vũ trụ và thế thì bạn thấy từ mọi nơi những con lạch của tình yêu chảy tới bạn. Bạn trở nên được hoàn thành. Vũ trụ có nhiều thứ để cho bạn, nhưng với điều đó bạn phải cởi mở. Và lối mở là có thể chỉ nếu bạn yêu: thế thì bạn trở thành mở, bằng không bạn vẫn còn đóng. Và ngay cả vũ trụ cũng bất lực trước cái đóng của bạn.

Kundalini: Đánh thức sức mạnh dục huyền bí


 Kundalini tiếng Sanskrit có nghĩa là “rắn” hay “sức mạnh của rắn”, gọi như thế là vì người ta cho rằng kundalini nằm cuộn mình giống như rắn trong luân xa gốc ở cuối cột xương sống. Trong Tantra Yoga, kundalini là một khía cạnh của Shakti, sức mạnh nữ thần, vợ của Shiva.

Hiện tượng đi kèm với Kundalini rất đa dạng, bao gồm những cảm giác cơ thể kỳ dị cùng những động tác, sự đau đớn, khả nặng thấu suốt, nhãn giới, ánh sáng rực rỡ vô cùng trong suốt, sức mạnh tâm linh, xuất thần, hạnh phúc và vượt qua cái tôi. Kundalini được mô tả là lửa dung dịch và ánh sáng dung dịch. Mô tả hay cảm giác kiểu Kundalini được tìm thấy trong các bài giảng bí truyền của người Ai Cập, Tây Tạng, Trung Hoa, một số bộ lạc Mỹ bản xứ và người Kung ở châu Phi.
 

Người tu luyện cần suy ngẫm, cảm nhận và đánh thức Kundalini và đưa nó lên cao qua cơ thể của chính mình. Lúc đầu, người tập có cảm giác nóng ở đốt sống, có thể nóng dữ dội hoặc ấm áp dễ chịu. Sau đó năng lượng đi lên trên bằng con đường tâm linh song song với cột sống, liên tục kích hoạt các luân xa, lên tới đỉnh đầu, kết hợp với năng lượng Shiva – dương cực và mang lại sự sáng. Sau đó người tập tìm cách hạ năng lượng xuống các luân xa khác, xuống dần đến luân xa cuối cùng để tạo ra sự thổi phồng ham muốn tình dục mãnh liệt. Trên đường đi của kundalini, những bệnh tật sẽ được tẩy rửa và năng lượng dục sẽ được chuyển hóa thành năng lượng sáng tạo.

Các Luân xa (“chakra” tiếng Sankrit có nghĩa là bánh xe): Luân xa được mô tả trong các tài liệu về Thiền định của Hindu giáo và Phật giáo. Dù cho đến nay chưa có chứng cứ khoa học nào chứng minh sự tồn tại của các luân xa nhưng khoa học cũng không thể phủ nhận được chúng. Có 7 luân xa chính và có hàng trăm luân xa phụ nằm dọc cột sống, mỗi luân xa này đi kèm với một tuyến nội tiết chính, một hệ thống mô sợi thần kinh chính, quy định các chức năng sinh lý và tâm linh. Vị trí dọc đốt sống càng cao thì luân xa càng phức tạp và mang các chức năng cao hơn.

Các luân xa chính phụ nối với cơ thể thông qua hàng nghìn kênh năng lượng tinh vi, tuy nhiên có 3 kênh chính: Sushuma kênh chính bắt nguồn từ chân cột sống và đi lên tủy não ở cuống não, xử lý năng lượng đi vào từ trường thinh không. Ida và pingala cũng phát triển từ chân cột sống đến chân mày và chấm dứt ở các mũi trái-phải. Chúng băng chéo qua sushuma theo hình xoáy ốc giống hình chữ Y. Chúng bọc quanh nhưng không xuyên qua luân xa và liên quan với dòng chảy năng lượng bên ngoài. Khi kundalini được đánh thức, nó sẽ làm hệ thống luân xa dâng lên qua Sushuma.

 

Một biểu tượng biến thể của các luân xa

7 luân xa gồm:

Số 1 (Luân xa gốc): nằm ở chân cột sống, là nơi ở của Kundalini, liên quan đến sự tồn tại và gắn liền với dục tính.

Số 2: nằm ở xương cùng, gần cơ quan sinh dục, điều khiển cảm giác của cơ quan sinh dục và sinh sản.

Số 3: Nằm ở phía trên rốn, là nơi tích trữ và luân chuyển khí, điều khiển cảm xúc

Số 4: Nằm ở tim, liên kết với nhận thức cấp cao và tình yêu vô điều kiện

Số 5: Nằm ở cổ họng, đi kèm với tính sáng tạo, thể hiện cái tôi và tìm kiếm chân lý. Luân xa này có ảnh hưởng đến tuyến giáp và tuyến giáp bên cũng như sự chuyển hóa, đi kèm với một số trạng thái ý thức mở rộng.

Số 6: Nằm giữa 2 chằng mày, còn gọi là con mắt thứ ba vì ảnh hưởng của nó đối với ý thức tâm linh và giác ngộ tinh thần. Luân xa này đi với tuyến tùng, tuyến yên, liên quan tới trí năng, trực giác và các sức mạnh tâm linh.

Số 7: Nằm ở đỉnh đầu, là vòng xoáy trôn ốc ngay trên đỉnh. Nó nằm ngoài các tuyến của cơ thể nhưng cho biết mức phát triển nhận thức của cá nhân. Luân xa 7 không thể được kích họa cho đến khi các luân xa khác được cân bằng và trau chuốt, mang lại sự giác ngộ tối cao và các ý thức vũ trụ.
Đường chạy của kundalini xuất phát từ luân xa gốc, dâng lên cao dần, tạo sự vận hành các bánh xe trong cơ thể, giúp cho cơ thể chuyển hóa năng lượng tiêu cực, đạt được trạng thái cân bằng và kết nối với vũ trụ.

Trẻ con to xác..



Có một học giả không giỏi lắm, đã mạnh dạn tổng kết rằng, cuộc đời nhàn nhạt của một kẻ trượng phu bình thường đương nhiên gồm ba giai đoạn tu. Lúc bé thì tu ti, trưởng thành thì tu rượu, về già thì tu thân.
Điều này lý giải tại sao đàn ông có tuổi thường vô cùng đạo mạo đứng đắn.
 Có thể nói, chặng đường tu tập của tất thẩy thì đại loại đều vất vả cồng kềnh, nhưng ở giai đoạn đầu đáng kể là quan trọng nhất. Các nhà Nho thâm thúy chữ nửa đùa nửa thật khẳng định "Nhân chi sơ là sờ tí mẹ". Không phải ngẫu nhiên, nỗi nhớ tí mẹ ở tất tật đàn ông luôn là nỗi ám ảnh dằng dặc khôn nguôi. Ngày xưa, đàn ông có tiền khi về già mệt mỏi biếng ăn, con cháu dư dật báo hiếu bằng cách lặn lội thuê về một vú em. Cụ Thượng trong tiểu thuyết hiện thực phê phán "Tắt đèn" được dậy ở giáo trình văn trung học phổ thông là như vậy.
Khoảng năm mươi năm gần đây, đàn ông càng đàng hoàng càng độc lập thì càng khó kiếm người yêu. Anh ta nông nổi tưởng tượng, với đàn bà anh ta phải là người che chở phải là người bao bọc. Anh ta nhầm. Tâm lý gia lỗi lạc người Áo Sigmund Freud (1856-1839) từng phân tích, phía sâu xa ẩn khuất trong vô thức của phụ nữ, luôn khát khao mang một thiên chức muốn được làm mẹ làm chị.

Đàn ông mà giống trẻ con thường được các bà các cô rưng rưng cảm mến. Họ lương thiện nghĩ, đàn ông mà biết hờn biết dỗi, biết không chịu trách nhiệm trước bất cứ việc gì, bạ một tý là khóc đấy mới chính là hồn nhiên trong veo ngây thơ.. Các Sở Khanh thập thành biết vậy, nên khi lọc lõi lừa tình, rất hay dở chiêu nũng nịu.
Hơn hai ngàn năm trước, đại hiền triết Lão Tử thâm thúy viết "thường đức bất ly, phục quy ư anh nhi" (Chương 28 - Đạo Đức Kinh). Nhiều quân tử vẫn giữ mình tri túc vẫn hiểu là "theo đức mà không lìa, nên trở về trẻ thơ".
Đàn ông đã thật già dặn đau đớn, đã thật thăng trầm trải nghiệm, khi bắt buộc phải ứng xử với bao nhiêu bạc bẽo cuộc đời thì bao giờ cũng luôn giữ cái nhìn chân chất xanh non của mắt trẻ. Họ tung tăng nhưng không bầy đàn. Họ chơi vui nhưng không ồn ào. Bỡ ngỡ mà sâu sắc. Thơ mà không ngây. Ứng mà không chứa. Họ cầm tiền như trẻ con cầm lá. Họ xem quan tước như bọn trẻ xem truyện tranh. Họ chất phác trong suốt như tự nhiên. Họ làm bất cứ việc gì cũng không gượng gạo giả trá. Nhờ vậy, họ sống rất lâu và nữhng lời bi bô của họ cùng thời gian bỗng thăng hoa trở thành đạo lý.
Tuy nhiên, những bậc "lão giả an nhi" (có người không biết chữ Hán linh tinh mạo muội dịch, người già đóng giả con nít) cũng chưa hẳn là những người thoát tục. Bằng cớ là kha khá rất đông trong bọn họ, thỉnh thoảng lại lon ton chạy đi lấy vợ trẻ. Nhiều người độc thân tưởng là chuyện dễ dàng nhưng thực ra đây là việc gian nan khó, bởi điều kiện đầu tiên để lấy được vợ trẻ là mình phải rất già.
Nhiều đàn ông tử tế thường thích coi mình là đứa trẻ to xác. Đành rằng hay nhưng chưa chắc đã tuyệt vời. Văn hào người Nga Tônxtôi có một câu ngậm ngùi khi nói về Andecxen, nhà văn Đan Mạch chuyên viết truyện cho thiếu nhi: "Ông ta rất cô đơn. Chính vì thế ông ta mới nói chuyện với bọn trẻ. Tuy làm như thế là lầm. Trẻ con không thương xót cái gì hết, chúng không biết thương". (Gorky bàn về văn học - tập 2).
Người ta đồn rằng, Tônxtôi đã già ngay khi ông đang học mẫu giáo, cũng có thể vì thế mà ông viết được "Chiến tranh và hòa bình".