BẦU TRỜI ĐẦY SAO TRÊN ĐẦU TÔI VÀ QUY LUẬT ĐẠO ĐỨC Ở TRONG TÔI ..! Nếu quẩn trí và muốn quyên sinh cứ đến, xin cứ đến hồ tôi... Ở đây mát lạnh và sâu thẳm... Ở đấy âm u như giấc ngủ không mơ... Ở đất, trong sâu thẳm, ngày đêm là một và lời ca là im lặng.
NGỤ NGÔN
Ta bạt mạng kéo theo người bạt mạng
Nên cơn vui thường kéo theo cực hình
Nên tương lai bằn bặt ở lòng mình
Nên bất hạnh ngập đầu ai vô tội
Người mới lớn cửa hồn chưa bám bụi
Vội vàng chi mở rộng cánh tin yêu ?
Biết đâu ta lẩn quẩn một đời, liều
Chuyên đội lốt thánh nhân đi ... lường gạt
Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013
Bí ẩn tu tập Mật tông qua tình dục
Các tượng phối ngẫu hoan lạc là của một phái của Mật Tông sáng chế ra, chứ chẳng phải của tất cả Mật Tông, chẳng phải của Phật Thích Ca dạy
Các tượng phối ngẫu hoan lạc là của một phái của Mật Tông sáng chế ra, chứ chẳng phải của tất cả Mật Tông, chẳng phải của Phật Thích Ca dạy, bởi vì chúng sinh vô minh tham dục mà phải sinh tử luân hồi, nên nếu người tu chưa tới trình độ tuyệt cao mà đi vào hoan lạc thì không thể giữ tâm yên được.
Đức Phật thường chỉ trích những người khi tu hành được chút ít mà quay qua lợi dưỡng vật chất, danh vọng địa vị, ái nhiễm dâm dục thì sẽ mất hết những gì đã đạt được; đó là đối với người tu đã khá rồi mà còn vậy, huống chi người tu chưa tới đâu cả mà vướng vào ái dục thì kết qủa sẽ ra sao, mọi người đều đã biết. Bởi vậy chúng ta không nên đi ngược lại lời Phật dạy về việc này và những tượng như thế không thích hợp với hầu hết mọi người, không thích hợp với văn hóa Việt Nam.
SỰ GIAO HỢP SINH LÝ VÀ CON ĐƯỜNG TÂM LINH :
Để rõ về sự việc này, xin mời qúy vị đọc một đoạn trích ra từ quyển “Chủ động cái chết” để tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hơn của ĐẠT-LAI LẠT-MA thứ XIV do Hoàng Phong dịch có ghi về SỰ GIAO HỢP SINH LÝ VÀ CON ĐƯỜNG TÂM LINH như sau:
“Người tu học giàu lòng từ bi và trí tuệ có thể dùng sự giao cấu trên đường tu tập tâm linh như một kỹ thuật để hướng tâm thức một cách mạnh mẽ vào bản thể tự tại căn bản của ánh sáng trong suốt; mục đích là cập nhật hóa và kéo dài các tầng lớp sâu kín nhất của tâm thức, lợi dụng sức mạnh của nó để ý thức một cách vững chắc Tánh không.
Một sự giao hợp tính dục đơn giản không có một chút gì liên hệ với sự phát triển tinh thần. Nhưng đối với một người đã đạt đến một mức độ tu tập thật cao, với lòng vững tin và trí tuệ, họ xem sự liên quan đó, kể cả sự gần gũi của hai cơ quan sinh dục, không làm thương tổn gì cho sự bảo vệ phẩm hạnh tinh khiết.
Đức Phật thường chỉ trích những người khi tu hành được chút ít mà quay qua lợi dưỡng vật chất, danh vọng địa vị, ái nhiễm dâm dục thì sẽ mất hết những gì đã đạt được; đó là đối với người tu đã khá rồi mà còn vậy, huống chi người tu chưa tới đâu cả mà vướng vào ái dục thì kết qủa sẽ ra sao, mọi người đều đã biết. Bởi vậy chúng ta không nên đi ngược lại lời Phật dạy về việc này và những tượng như thế không thích hợp với hầu hết mọi người, không thích hợp với văn hóa Việt Nam.
SỰ GIAO HỢP SINH LÝ VÀ CON ĐƯỜNG TÂM LINH :
Để rõ về sự việc này, xin mời qúy vị đọc một đoạn trích ra từ quyển “Chủ động cái chết” để tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hơn của ĐẠT-LAI LẠT-MA thứ XIV do Hoàng Phong dịch có ghi về SỰ GIAO HỢP SINH LÝ VÀ CON ĐƯỜNG TÂM LINH như sau:
“Người tu học giàu lòng từ bi và trí tuệ có thể dùng sự giao cấu trên đường tu tập tâm linh như một kỹ thuật để hướng tâm thức một cách mạnh mẽ vào bản thể tự tại căn bản của ánh sáng trong suốt; mục đích là cập nhật hóa và kéo dài các tầng lớp sâu kín nhất của tâm thức, lợi dụng sức mạnh của nó để ý thức một cách vững chắc Tánh không.
Một sự giao hợp tính dục đơn giản không có một chút gì liên hệ với sự phát triển tinh thần. Nhưng đối với một người đã đạt đến một mức độ tu tập thật cao, với lòng vững tin và trí tuệ, họ xem sự liên quan đó, kể cả sự gần gũi của hai cơ quan sinh dục, không làm thương tổn gì cho sự bảo vệ phẩm hạnh tinh khiết.
Tại sao phối hợp sinh lý lại có thể giúp đỡ để thăng tiến trên con đường Đạo? Bởi vì tiềm năng các tầng lớp thô lỗ nhất của tâm thức rất giới hạn, các tầng lớp tâm thức tinh tế lại mạnh mẽ vô cùng, người tu học đến một mức độ cao cần phải đạt đến những tầng lớp tinh tế nhất của tâm thức. Muốn đạt được chủ đích ấy cần phải làm suy yếu và khống chế tạm thời những cảm nhận thô thiển, để thực hiện điều đó phải tạo ra một sự thay đổi toàn diện các luồng năng lực bên trong; dù cho các tầng lớp sâu kín nhất của tâm thức phát hiện trong các trường hợp như khi nhảy mũi hay ngáp, nhưng rõ ràng là chúng không kéo dài.
Cũng giống như thế, kinh nghiệm về sự biểu lộ các tầng lớp sâu kín rất cần thiết để sử dụng trong khi ngủ thật say. Nhờ vào những kỹ thuật đặc biệt tập trung tư tưởng khi khoái cảm, những người tu tập tinh thông có thể kéo dài các trạng thái tinh tế, thật thâm sâu và cường mạnh, để sử dụng chúng trong mục đích đạt tới Tánh không; trường hợp giao cấu trong khung cảnh bình thường sẽ chẳng đem đến một lợi ích gì cả.
Những câu chuyện thú vị về các Lạt ma tu tập cùng bạn phối ngẫu:
Thân phụ của một vị quá cố tên Serkong Rinpoché, là một học giả uyên bác và cũng là người tu hành thành đạt, ông ta thuộc tu viện Ganden, cách một khoảng xa về phía nam Lhasa. Người thầy Lạt-ma chính thức của ông là Trin Ngawang Norbu, trụ trì ở tu viện Drepung, phía tây Lhasa; thân phụ của Serkong Rinpoché trú ngụ tại Lhasa, mỗi ngày vào lúc tinh sương, ông ta đi bộ đến tận Drepung để xách nước cho người thầy Lạt-ma của ông, quét dọn tu viện và thỉnh thoảng cũng tìm được chút thì giờ để nghe giảng huấn; đến chiều ông ta lại quay về Lhasa.
Một buổi tối, người cha của Serkong gặp một cô gái và không giữ được lời nguyện của mình; quá hối hận về hành vi đó, sáng hôm sau, ông ta đi Drepung, vừa đi vừa khóc; khi ông ta bước vào phòng, vị Lạt-ma cũng vừa xong khóa tụng niệm. Vị thầy Lạt-ma Trin Ngawang Norbu nói với ông: «Đệ tử đã sa ngã rồi, cũng tốt, từ nay phải tu tập với một người bạn đường vậy». Lời khuyên thật hết sức bất ngờ, nhưng sự kinh ngạc còn kỳ lạ hơn nữa, vì về sau này lúc người bạn đường của ông qua đời, những biểu hiện man-tra của nữ thần Vajrayogini (Tức là không còn tái sinh nữa) phát hiện trên đỉnh đầu của người chết.
Cũng giống như thế, kinh nghiệm về sự biểu lộ các tầng lớp sâu kín rất cần thiết để sử dụng trong khi ngủ thật say. Nhờ vào những kỹ thuật đặc biệt tập trung tư tưởng khi khoái cảm, những người tu tập tinh thông có thể kéo dài các trạng thái tinh tế, thật thâm sâu và cường mạnh, để sử dụng chúng trong mục đích đạt tới Tánh không; trường hợp giao cấu trong khung cảnh bình thường sẽ chẳng đem đến một lợi ích gì cả.
Những câu chuyện thú vị về các Lạt ma tu tập cùng bạn phối ngẫu:
Thân phụ của một vị quá cố tên Serkong Rinpoché, là một học giả uyên bác và cũng là người tu hành thành đạt, ông ta thuộc tu viện Ganden, cách một khoảng xa về phía nam Lhasa. Người thầy Lạt-ma chính thức của ông là Trin Ngawang Norbu, trụ trì ở tu viện Drepung, phía tây Lhasa; thân phụ của Serkong Rinpoché trú ngụ tại Lhasa, mỗi ngày vào lúc tinh sương, ông ta đi bộ đến tận Drepung để xách nước cho người thầy Lạt-ma của ông, quét dọn tu viện và thỉnh thoảng cũng tìm được chút thì giờ để nghe giảng huấn; đến chiều ông ta lại quay về Lhasa.
Một buổi tối, người cha của Serkong gặp một cô gái và không giữ được lời nguyện của mình; quá hối hận về hành vi đó, sáng hôm sau, ông ta đi Drepung, vừa đi vừa khóc; khi ông ta bước vào phòng, vị Lạt-ma cũng vừa xong khóa tụng niệm. Vị thầy Lạt-ma Trin Ngawang Norbu nói với ông: «Đệ tử đã sa ngã rồi, cũng tốt, từ nay phải tu tập với một người bạn đường vậy». Lời khuyên thật hết sức bất ngờ, nhưng sự kinh ngạc còn kỳ lạ hơn nữa, vì về sau này lúc người bạn đường của ông qua đời, những biểu hiện man-tra của nữ thần Vajrayogini (Tức là không còn tái sinh nữa) phát hiện trên đỉnh đầu của người chết.
Cũng trong khoảng thời gian này, có một vị Lạt-ma khác là Tabung Rinpoché, tu tập với một người bạn đường; mỗi tháng vào ngày thuận lợi, vị sư Viện chủ và các vị Lạt-ma cao tuổi khác, chẳng hạn như ngài Trijang Rinpoché (sau này trở thành vị thầy giáo huấn của tôi), đều họp để nghe vị Lạt-ma Tabung Rinpoché giảng, nghi thức dùng đến hai khí cụ giống như hai ống sáo. Hai nhạc công, một người dùng tay phải, một người dùng tay trái, khi họ đối diện nhau và mỗi người thổi một giai điệu khác nhau, cử tọa đều ngưng tụng niệm và bật cười vì điệu nhạc kỳ quặc đó. Khi họ nhìn vị Lạt-ma Tabung Rinpoché, ông này vẫn ngồi yên, hoàn toàn không hay biết gì hết về những chuyện đang xảy ra; sau này, vị Viện chủ mới hiểu ra rằng chính trong lúc đó, vị Tabung Rinpoché đang tiếp nhận nhận sự giảng huấn hoàn toàn trên cấp bậc biểu hiện đơn thuần.
Chính trong thời gian này, vị Đạt-lai Lạt-ma thứ XIII đang duyệt xét để thẩm định sự chân chính của các vị lạt-ma, và trong dịp ấy ông đã khai trừ môt số lớn những người không xứng đáng; Ông xét đến trường hợp thân phụ của Serkong Rinpoché và của Tabung Rinpoché và xem đó là những trường hợp ngoại lệ. Qua quyết định trên đây, ông (Đạt Lai Lạt Ma thứ XIII) đã chính thức công nhận khả năng khác thường và quyền đặc biệt có người bạn đường khi tu tập tan-tra; vậy thì có lẽ họ phải có những kinh nghiệm gì thật sâu xa, nhưng tôi chưa hề nghe nói họ khoe khoang gì về những điều ấy.
Tóm lại - Đối với những người tu tập cao, đã phát lộ được lòng từ bi vững chắc và một trí tuệ vượt bậc, họ có thể sử dụng sự giao hợp tính dục như một kỹ thuật để tập trung cao độ tâm thức trong lúc bản thể tự tại và căn bản của ánh sáng trong suốt biểu lộ; nhờ vào nội tâm đó, họ ý thức được Tánh không của mọi hiện hữu nội tại một cách vô cùng mãnh liệt.”
Chính trong thời gian này, vị Đạt-lai Lạt-ma thứ XIII đang duyệt xét để thẩm định sự chân chính của các vị lạt-ma, và trong dịp ấy ông đã khai trừ môt số lớn những người không xứng đáng; Ông xét đến trường hợp thân phụ của Serkong Rinpoché và của Tabung Rinpoché và xem đó là những trường hợp ngoại lệ. Qua quyết định trên đây, ông (Đạt Lai Lạt Ma thứ XIII) đã chính thức công nhận khả năng khác thường và quyền đặc biệt có người bạn đường khi tu tập tan-tra; vậy thì có lẽ họ phải có những kinh nghiệm gì thật sâu xa, nhưng tôi chưa hề nghe nói họ khoe khoang gì về những điều ấy.
Tóm lại - Đối với những người tu tập cao, đã phát lộ được lòng từ bi vững chắc và một trí tuệ vượt bậc, họ có thể sử dụng sự giao hợp tính dục như một kỹ thuật để tập trung cao độ tâm thức trong lúc bản thể tự tại và căn bản của ánh sáng trong suốt biểu lộ; nhờ vào nội tâm đó, họ ý thức được Tánh không của mọi hiện hữu nội tại một cách vô cùng mãnh liệt.”
Ý nghĩa tượng "Phật ân ái" trong Kim Cang Thừa
-Một tượng Phật bị “ném đá” trên mạng vì tạo hình được cho là quá sắc dục. Một người nữ khỏa thân ngồi trong lòng, choàng tay ôm lấy vị Phật.
Ngay lập tức bức tượng này khiến nhiều người cảm thấy đạo Phật bị xúc phạm, đã khiến phật tử Thái Lan vô cùng giận dữ. Không chỉ có thế, nhiều cư dân mạng VN cũng chia sẻ nỗi bất bình vì hình ảnh này.
Ngay lập tức bức tượng này khiến nhiều người cảm thấy đạo Phật bị xúc phạm, đã khiến phật tử Thái Lan vô cùng giận dữ. Không chỉ có thế, nhiều cư dân mạng VN cũng chia sẻ nỗi bất bình vì hình ảnh này.
Bức tượng xúc phạm phật tử Thái Lan
Bangkok Post dẫn lời một cư dân mạng gọi người đúc tượng là “quỷ dữ”, muốn làm ô uế thanh danh của Đức Phật. Một người sử dụng mạng xã hội Facebook còn kêu gọi giới chức Thái Lan can thiệp bằng đường ngoại giao để phá hủy bức tượng.
Kim Cang Thừa: chính phái hay "tà phái":
Phật giáo Tây Tạng- tu tập theo Kim Cang Thừa trước đây luôn được giữ kín trong núi cao rừng rậm với những bậc thầy ẩn mình hoàn toàn không giao tiếp với thế giới bên ngoài, ngày nay với những phương tiện thông tin của thế kỷ 21, Mật tông đã được quá nhiều người biết đến qua những nguồn thông tin khác nhau.
Qua nhiều lần chúng tôi tiếp xúc với các bạn trẻ quan tâm đến Mật tông, người viết những dòng này đã nhận ra một thực tế là có rất nhiều bạn hiểu sai về Mật tông, và nguyên nhân chính là vì không có được những nguồn thông tin đầy đủ và chính xác.
Để trở một vị hành giả tu theo Kim Cang Thừa, phải dùng nhiều pháp tu để tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, tâm để trở thành thân, khẩu, tâm của một vị Phật. Trên bước đường thuần hóa tâm hồn trở thành Pháp thân của Phật. Hành giả phải trải nghiệm pháp tu “Mật”, do một vị thầy trực tiếp giảng dạy. Giống như thầy thuốc gia giảm hay tăng phát đồ điều trị cho bệnh nhân. Pháp đó còn được gọi là Mật thừa hay Mật Tông.
“Mật thừa có 4 đặc tính: thứ nhất là pháp Du già tịnh hóa triệt để môi trường chung quanh; thứ hai là pháp Du già tịnh hóa triệt để thân xác; thứ ba là tịnh hóa triệt để mọi cảm thọ; thứ tư là pháp Du già tịnh hóa triệt để mọi hành vi. Bất cứ giáo lý nào chứa đựng bốn sự tịnh hóa ấy đều là Mật thừa”.
Như vậy, rõ ràng Phật giáo Tây Tạng hay Kim Cang Thừa không hề hướng dẫn người tu đi vào con đường vọng nhiễm sắc dục, thói đời thường của kiếp sống nhân sinh. Vậy các bức ảnh, tượng đang ngồi trên hoa sen đang “ôm ấp” hình ảnh nữ sắc kia là ai? Và những bức ảnh, tượng đó có xúc phạm đến các tông phái khác, và cộng đồng Phật giáo trên thế giới hay không?
Sau 500 năm đức Phật nhập Niết-bàn, chúng ta nhận thấy cơ cấu của những mối quan hệ nhân và quả, nó bao gồm chính cơ cấu của dòng tâm thức của riêng ta, bị thu hẹp tột bực. Cho nên mỗi hành giả đi vào lộ trình giải thoát giác ngộ cho chính mình còn khó khăn hơn nữa. Vì vậy, Kim cương thừa sử dụng tất cả những gì mà con người có thể có được trong thân tâm mình để tiến bộ trên đường giải thoát. Bởi thế, có một câu nói nổi tiếng rằng: “Con người đã ngã té trên đất, hắn phải nhờ chính mặt đất để đứng dậy”. Sự nhấn mạnh vào phương tiện, phương pháp, kỹ thuật là một đặc điểm của Kim cương thừa.
Phần lớn những cuộc tranh luận là về pháp Yab-yum hay còn gọi là pháp song tu, pháp tu phối ngẫu. Hình tượng một vị Phật, đang ôm một phối thân nữ đã bị rất nhiều Phật tử cho là không đúng đắn, là sai với tôn chỉ của đức Phật, là một dạng tha hóa... Hay nặng nề hơn là đã từng có một số vị thầy giảng pháp cho Kim Cang Thừa là đạo dâm tà…
Thực tế hình ảnh này phổ biến trong thờ tự Tây Tạng
Phật phối ngẫu không hàm chứa nghĩa khoái lạc thân xác:Toàn bộ chúng sinh cõi Dục được cấu thành bằng những vật chất rất thô trọc, đồng thời lòng Dục luôn tồn tại trong chúng ta. Những chúng sinh từ cõi Sắc Giới trở lên cho đến cõi Vô Sắc Giới thì lòng Dục đã không còn. Vì sao? Đơn giản là vì vật chất cấu thành thân của họ đã thanh tịnh và vi tế, nhẹ nhàng hơn vật chất cấu thành thân của chúng ta rất nhiều. Cho nên chúng ta phải hiểu trong những ảnh tượng của tông Nyingma Tây Tạng, Phổ Hiền trong tư thế Yab-Yum ở trung tâm của Mạn Đà la Shi-tro, Mạn Đà La của Thái Hòa. Tuy nhiên có khi vị Bồ Tát này cũng được biểu thị trong hình tướng phẫn nộ được gọi là Chemchok Heruka. Trong hình tướng này, ngài là vị thần có cánh với thân hình màu nâu đỏ sẫm có ba mặt, sáu tay và bốn chân, thường được miêu tả trong tư thế ôm lấy người phối ngẫu màu đỏ tươi. Hình ảnh đó tượng trưng cho sự nhất thể (như tượng trên) trong Phật Giáo Đại Thừa (tranh tượng dạng này rất phổ biến tại Nepal, Tây Tạng, Ấn Độ…)
Từ cảm hứng bất tận trong diễn đạt từ suy nghĩ đang tuôn chảy trong tận cùng ngóc ngách của dòng tâm thức ra bên ngoài bằng hình vẽ, hay đúc thành tượng. Mục đích chỉ cho chúng ta thấy, muốn chuyển đổi thân tướng ngũ uẩn và thế giới uế trược này để chứng Pháp thân là phải vượt qua một cửa ải ái dục khá vất vả. “Khuyết điểm lớn nhất của chúng sanh là si ái-ngày đêm sống trong si ái, không thể xả bỏ được. Nếu chuyển được tâm háo sắc thành tâm tu học Phật Pháp, từng giờ từng phút không lãng quên việc tu học, thì sẽ mau chóng thành Phật.”
Pháp thân này rất rất vi tế, thanh tịnh và không có một chút hàm chứa Dục Lạc trong đó. Độ vi tế và thanh tịnh của thân Bồ tát thậm chí còn vi tế và thanh tịnh hơn chúng sinh cõi Vô Sắc rất nhiều. Vì vậy, thị hiện hình tướng phối ngẫu của chư Tôn vốn dĩ đã hoàn toàn không còn một chút gì là Dục vọng nữa.
Thông thường chúng ta có một thói quen là nhìn tượng Phật ở trên bằng con mắt của một con người bình thường. Hoàn toàn sai lầm khi nói rằng tôn nam này kết hợp với tôn nữ kia. Nhưng nếu các bạn nhìn tượng với nhãn quan của người ngồi thiền sẽ thấy hoàn toàn khác hẳn. Phật trong bức tượng hoàn toàn trong tư thế thiền và không để tâm gì đến cô gái trong bức tượng cả. Cô gái và tư thế như đang giao hoan chỉ để diễn tả trạng thái hỷ lạc của thiền định.
Các bạn nào đã từng ngồi thiền và nhập định được sẽ hiểu được niềm hạnh phúc trong cõi thiền khi mà các hormon tạo ra sự sảng khoái, hưng phấn được tiết ra sau khi cơ thể đạt đến trạng thái thư giãn hoàn toàn. Đồng thời, chỉ cho tất cả chúng sinh khi đang tu tập còn chịu sự chi phối rất nhiều của nghiệp quá khứ, tận cùng trong tâm thức vẫn còn ái nghiệp chưa dứt, khi chưa chuyển “thức” thành “trí”. Một cách khắc họa tâm thức ra bên ngoài, thay vì chúng ta phải tránh né, nhưng không có nghĩa nghiệp ái không tồn tại trong ta. Nó khó, tại sao chúng ta không đối mặt để hóa giải, hay kê toa cho đúng bệnh. Vì ái nghiệp dắt chúng ta đi trong sinh tử luân hồi. “Con người đã ngã té trên đất, hắn phải nhờ chính mặt đất để đứng dậy” Đạo Phật đến để thực hành chứ không phải đến để chiêm ngưỡng hay nhận xét.
Jokes banned women read ..
1. Chàng yêu nàng từ thuở nàng mười lăm mười sáu tuổi. Cả hai lén lút đi lại, quan hệ, quậy gia đình, trốn nhà đi, dọa chết nếu không được chấp nhận. Nếu quan hệ ấy kéo dài một năm, được gọi là phạm pháp, dụ dỗ trẻ vị thành niên, có nguy cơ ra tòa thụ án. Nếu mối tình ấy kéo dài ba năm, được gọi là yêu trộm, tình yêu oan trái. Nếu mối tình kéo dài sáu bảy năm, sẽ được gọi là tình yêu đích thực, vượt núi trèo đèo qua bao khó khăn để yêu nhau.
Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm được trong… bao lâu!
2. Một nàng cave, nếu ngủ với thợ thuyền hoặc lao động ngoại tỉnh, thì bị gọi là đối tượng xã hội. Nếu ngủ với đại gia lừng lẫy, thì được gọi là chân dài. Nếu ngủ với một ngôi sao sân cỏ hoặc màn bạc, sẽ được đàng hoàng lên báo kể chuyện “nghề nghiệp” và trưng ảnh hở da thịt giữa công chúng, không ai có ý định bắt nàng. Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm điều đó với ai!
3. Phòng tắm công cộng bỗng dưng bị chập điện gây hỏa hoạn lớn, vô số chị em chạy túa ra đường mà không kịp mặc gì. Những nàng thông minh là người không lấy tay che thân thể, mà lấy tay che… mặt.
Kết luận: Hãy quan tâm tới mấu chốt của mọi vấn đề.
4. Một nàng gái ế chạy tới đồn cảnh sát tố cáo: “Tôi đã cẩn thận để tiền trong áo lót, thế mà thằng cha đẹp trai đứng cạnh tôi ở trên xe bus đông đúc đã móc lấy mất tiền của tôi!”. Cảnh sát ngạc nhiên: “Tại sao nó có thể móc tiền được ở một vị trí “nhạy cảm” như thế, mà cô không phát hiện ra?”
Cô nàng gái ế thút thít: “Ai ngờ được là nó chỉ muốn moi tiền?”
Kết luận: Một nhà kinh doanh tài ba là người moi được tiền của khách hàng trong lúc đang khiến khách hàng sung sướng ngất ngây.
5. Nhân viên vệ sinh của công ty rất buồn phiền vì các quý ông thường lơ đãng khi vào nhà vệ sinh. Để giải quyết những vũng nước vàng khè dưới nền toilette, công ty dán lên tường, phía trên bệ xí nam một tờ giấy: “Không tiểu tới bô chứng tỏ bạn bị ngắn, tiểu ra ngoài bô chứng tỏ bạn bị… ủ rũ!”. Ngay từ ngày hôm sau, toilette nam sạch bóng và không còn quý ông nào lơ đãng nữa.
Kết luận: Hãy chứng minh cho khách hàng thấy vấn đề một cách cụ thể, ấn tượng.
6. Bố mẹ nàng mở cuộc thi tuyển con rể. Chàng A nói, tài khoản có một triệu đô. Chàng B khoe, có biệt thự hai triệu đô. Bố mẹ nàng có vẻ ưng lắm. Chàng C nói, cháu chả có gì cả, thưa các bác. Cháu chỉ có mỗi một đứa con, hiện đang nằm trong bụng của con gái các bác!
Kết luận: Muốn cạnh tranh với đối thủ, cần có tay trong!
Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm được trong… bao lâu!
2. Một nàng cave, nếu ngủ với thợ thuyền hoặc lao động ngoại tỉnh, thì bị gọi là đối tượng xã hội. Nếu ngủ với đại gia lừng lẫy, thì được gọi là chân dài. Nếu ngủ với một ngôi sao sân cỏ hoặc màn bạc, sẽ được đàng hoàng lên báo kể chuyện “nghề nghiệp” và trưng ảnh hở da thịt giữa công chúng, không ai có ý định bắt nàng. Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm điều đó với ai!
3. Phòng tắm công cộng bỗng dưng bị chập điện gây hỏa hoạn lớn, vô số chị em chạy túa ra đường mà không kịp mặc gì. Những nàng thông minh là người không lấy tay che thân thể, mà lấy tay che… mặt.
Kết luận: Hãy quan tâm tới mấu chốt của mọi vấn đề.
4. Một nàng gái ế chạy tới đồn cảnh sát tố cáo: “Tôi đã cẩn thận để tiền trong áo lót, thế mà thằng cha đẹp trai đứng cạnh tôi ở trên xe bus đông đúc đã móc lấy mất tiền của tôi!”. Cảnh sát ngạc nhiên: “Tại sao nó có thể móc tiền được ở một vị trí “nhạy cảm” như thế, mà cô không phát hiện ra?”
Cô nàng gái ế thút thít: “Ai ngờ được là nó chỉ muốn moi tiền?”
Kết luận: Một nhà kinh doanh tài ba là người moi được tiền của khách hàng trong lúc đang khiến khách hàng sung sướng ngất ngây.
5. Nhân viên vệ sinh của công ty rất buồn phiền vì các quý ông thường lơ đãng khi vào nhà vệ sinh. Để giải quyết những vũng nước vàng khè dưới nền toilette, công ty dán lên tường, phía trên bệ xí nam một tờ giấy: “Không tiểu tới bô chứng tỏ bạn bị ngắn, tiểu ra ngoài bô chứng tỏ bạn bị… ủ rũ!”. Ngay từ ngày hôm sau, toilette nam sạch bóng và không còn quý ông nào lơ đãng nữa.
Kết luận: Hãy chứng minh cho khách hàng thấy vấn đề một cách cụ thể, ấn tượng.
6. Bố mẹ nàng mở cuộc thi tuyển con rể. Chàng A nói, tài khoản có một triệu đô. Chàng B khoe, có biệt thự hai triệu đô. Bố mẹ nàng có vẻ ưng lắm. Chàng C nói, cháu chả có gì cả, thưa các bác. Cháu chỉ có mỗi một đứa con, hiện đang nằm trong bụng của con gái các bác!
Kết luận: Muốn cạnh tranh với đối thủ, cần có tay trong!
Sầu ở lại..
02/13/2012 06:38 am
| Chân dung Tạ Ký – Văn Đen vẽ |
Buồn như ly rượu cạn,
Không còn rượu cho say.
Buồn như ly rượu đầy,
Không còn một người bạn.
Buồn như đêm khuya vắng,
Qua cửa sổ trông trăng.
Buồn như em nói rằng:
Nhớ anh từng đêm trắng.
Buồn như yêu không được
Dù người yêu có thừa.
Buồn như mối tình xưa
Chỉ còn dòng lưu bút.
Buồn như buồn như thế,
Buồn như một kiếp người.
Đây cõi lòng quạnh quẽ
Buồn như đóa hoa rơi!
Anh cho em mùa xuân
Mỗi đêm một gói thuốc,
Hút nhiều nứt cả môi,
Nỗi buồn không nói được,
Nỗi buồn ăn vào tôi.
Trời mùa đông rừng núi,
Đời mùa đông vô cùng!
Bánh xe nào tung bụi,
Nhịp chim nào đã ngưng
"Anh cho em mùa xuân"
Giọng ca buồn quá sức!
Cô gái đầu cúi gục:
"Anh cho em mùa xuân".
Mớ tóc xanh đã bạc,
Mớ môi hồng đã phai,
Anh cho em gió lạc,
Anh cho em mưa dài!
Trời mùa đông rừng núi,
Đời mùa đông vô cùng!
Hút thuốc trong bóng tối,
Khói có bay lên không?
(Tặng Phạm Công Thiện)
Mỗi đêm một gói thuốc,
Hút nhiều nứt cả môi,
Nỗi buồn không nói được,
Nỗi buồn ăn vào tôi.
Trời mùa đông rừng núi,
Đời mùa đông vô cùng!
Bánh xe nào tung bụi,
Nhịp chim nào đã ngưng
"Anh cho em mùa xuân"
Giọng ca buồn quá sức!
Cô gái đầu cúi gục:
"Anh cho em mùa xuân".
Mớ tóc xanh đã bạc,
Mớ môi hồng đã phai,
Anh cho em gió lạc,
Anh cho em mưa dài!
Trời mùa đông rừng núi,
Đời mùa đông vô cùng!
Hút thuốc trong bóng tối,
Khói có bay lên không?
(Tặng Phạm Công Thiện)
Thêm buồn
Tôi sẽ chết dễ dàng hơn đã sống,
Mắt không buồn vì nhắm đến muôn thu.
Con chim nào xanh, giấc mộng nào hư,
Lời bay bướm lặng dần vào dĩ vãng,
Ba mươi đến khỏi lo tiền cơm tháng!
Cô mỉm cười, cô có biết gì đâu!
Tôi từng nghe chó sủa suốt đêm thâu,
Và chim hót suốt mùa đông lạnh lẽo,
Ôi con chim hồng từng bay lạc nẻo
Đường trái tim hun hút thời gian.
Thuở xưa kia người ấy đẹp tuyệt trần,
Cao nguyên ngực, Thái Bình Dương mắt biếc,
Anh đào môi, tóc trường giang quấn riết
Tháp da ngà chưa một bóng du lang.
Tôi tới bên ai lời nói ngập ngừng…
Ốc đảo chập chờn giữa trưa sa mạc,
Gót ngọc quay đi, một người chết khát!
Thuở xưa kia thời mười tám, hai mươi,
Có chàng trai cười vẫn nở trên môi,
Tin tưởng lắm chuyện trên trời dưới đất,
Nhân Ái, Công Bình, Yêu Đương, Bất Khuất
Viết chữ hoa trong óc trẻ mười lăm!
Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm
Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ,
Thì uất hận vạch trời nhưng chẳng tỏ,
Rồi cô đơn như một kẻ chăn cừu
Trên đồi cao nhìn tinh tú luân lưu.
Tôi hốt hoảng như một người phạm tội,
Tôi muốn chạy nhưng mà đường nghẽn lối,
Chúa thì xa, Phật cao vút từng không,
Phật tại tâm nhưng tâm đã bềnh bồng,
Tiếng chuông Chúa không ru hồn kẻ khổ
(Một chiếc linh hồn mang mang thiên cổ)
Tôi tới bên em quỳ xuống nguyện cầu,
Em đẹp vô vàn như hạt trân châu,
Ai yêu mến mà không hề nói quá!
Nhưng than ôi em không là tượng đá
Đội thời gian nhìn kẻ thế nhân qua,
Tôi làm thơ để mang tiếng tài hoa,
Mà vần điệu chỉ là châu ngọc hão!
Thương vớ vẩn tự mình gây gió bão,
Trách vu vơ mà chẳng trách mình ngu,
Thời loạn ly khởi sự tự bao giờ!
Tôi sẽ chết vô duyên như đã sống,
Đất nghĩa trang có chắc chi còn rộng,
Không biết nằm đầu sẽ hướng phương nào?
Nghĩ thêm buồn cho câu chuyện mai sau.
(Tặng Lê Khắc Lý)
Tôi sẽ chết dễ dàng hơn đã sống,
Mắt không buồn vì nhắm đến muôn thu.
Con chim nào xanh, giấc mộng nào hư,
Lời bay bướm lặng dần vào dĩ vãng,
Ba mươi đến khỏi lo tiền cơm tháng!
Cô mỉm cười, cô có biết gì đâu!
Tôi từng nghe chó sủa suốt đêm thâu,
Và chim hót suốt mùa đông lạnh lẽo,
Ôi con chim hồng từng bay lạc nẻo
Đường trái tim hun hút thời gian.
Thuở xưa kia người ấy đẹp tuyệt trần,
Cao nguyên ngực, Thái Bình Dương mắt biếc,
Anh đào môi, tóc trường giang quấn riết
Tháp da ngà chưa một bóng du lang.
Tôi tới bên ai lời nói ngập ngừng…
Ốc đảo chập chờn giữa trưa sa mạc,
Gót ngọc quay đi, một người chết khát!
Thuở xưa kia thời mười tám, hai mươi,
Có chàng trai cười vẫn nở trên môi,
Tin tưởng lắm chuyện trên trời dưới đất,
Nhân Ái, Công Bình, Yêu Đương, Bất Khuất
Viết chữ hoa trong óc trẻ mười lăm!
Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm
Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ,
Thì uất hận vạch trời nhưng chẳng tỏ,
Rồi cô đơn như một kẻ chăn cừu
Trên đồi cao nhìn tinh tú luân lưu.
Tôi hốt hoảng như một người phạm tội,
Tôi muốn chạy nhưng mà đường nghẽn lối,
Chúa thì xa, Phật cao vút từng không,
Phật tại tâm nhưng tâm đã bềnh bồng,
Tiếng chuông Chúa không ru hồn kẻ khổ
(Một chiếc linh hồn mang mang thiên cổ)
Tôi tới bên em quỳ xuống nguyện cầu,
Em đẹp vô vàn như hạt trân châu,
Ai yêu mến mà không hề nói quá!
Nhưng than ôi em không là tượng đá
Đội thời gian nhìn kẻ thế nhân qua,
Tôi làm thơ để mang tiếng tài hoa,
Mà vần điệu chỉ là châu ngọc hão!
Thương vớ vẩn tự mình gây gió bão,
Trách vu vơ mà chẳng trách mình ngu,
Thời loạn ly khởi sự tự bao giờ!
Tôi sẽ chết vô duyên như đã sống,
Đất nghĩa trang có chắc chi còn rộng,
Không biết nằm đầu sẽ hướng phương nào?
Nghĩ thêm buồn cho câu chuyện mai sau.
(Tặng Lê Khắc Lý)
Xin thật im
Thật im, thật im, nghe kìa em đêm cạn,
Trắng dờn sương mà lạnh thấu tâm can.
Miệng cười ư? Sao lệ vẫn đôi hàng?
Hứa hẹn hão! Không buộc lời gió lại.
Tay đã giao tình, việc đời oan trái,
Hay là ngu, là dại, là rất điên!
Em dẫn tôi qua nhiều xứ ưu phiền,
Chim gãy cánh, sao rơi, hoa héo rụng!
Và mắt tôi khi không còn mơ mộng,
Và hồn tôi không hát thơ yêu,
Vốn tài hoa nên tình cũng rất kiêu,
Chọn lựa quá nên tôi nhầm đến chết!
Đời gian ngoa mà mình không quỷ quyệt
Nên đành thua cho đến trắng hai tay!
Trách gì ai đường nghĩa địa buồn thay!
Xe dẫn xác lắc lư từng vó ngựa…
Xin thật im, thật im, im thêm chút nữa.
Ồ vô duyên đừng vờ thế em ơi!
Kìa xem trăng ngã ngửa đã lâu rồi,
Chim vỡ cổ vì cất cao giọng quá!
Bởi tin lắm nên không ngờ dối trá,
Bởi miệng hoa còn biết gửi hôn yêu,
Ai dựng bình minh bằng ánh nắng chiều,
Và sao rụng chứ không phải là hoa nở,
Cửa lòng đóng, cửa mồ kia sắp mở,
Xin im giùm, thật im nữa, em ơi!
Đừng có thời gian em đã chẳng xa tôi.
Thật im, thật im, nghe kìa em đêm cạn,
Trắng dờn sương mà lạnh thấu tâm can.
Miệng cười ư? Sao lệ vẫn đôi hàng?
Hứa hẹn hão! Không buộc lời gió lại.
Tay đã giao tình, việc đời oan trái,
Hay là ngu, là dại, là rất điên!
Em dẫn tôi qua nhiều xứ ưu phiền,
Chim gãy cánh, sao rơi, hoa héo rụng!
Và mắt tôi khi không còn mơ mộng,
Và hồn tôi không hát thơ yêu,
Vốn tài hoa nên tình cũng rất kiêu,
Chọn lựa quá nên tôi nhầm đến chết!
Đời gian ngoa mà mình không quỷ quyệt
Nên đành thua cho đến trắng hai tay!
Trách gì ai đường nghĩa địa buồn thay!
Xe dẫn xác lắc lư từng vó ngựa…
Xin thật im, thật im, im thêm chút nữa.
Ồ vô duyên đừng vờ thế em ơi!
Kìa xem trăng ngã ngửa đã lâu rồi,
Chim vỡ cổ vì cất cao giọng quá!
Bởi tin lắm nên không ngờ dối trá,
Bởi miệng hoa còn biết gửi hôn yêu,
Ai dựng bình minh bằng ánh nắng chiều,
Và sao rụng chứ không phải là hoa nở,
Cửa lòng đóng, cửa mồ kia sắp mở,
Xin im giùm, thật im nữa, em ơi!
Đừng có thời gian em đã chẳng xa tôi.
Chiều thương..
Em thích những chiều như chiều nay. Hoang hoải nắng và hư hao gió. Thêm một chút chênh chao của tiết trời cuối Đông, mà sẽ thấy trong tim mình ngàn vạn lần những sợi nhớ sợi thương mong manh tựa hồ như con gió nhỏ.
Em thích chạy xe một mình trên con phố ồn ã trong những chiều như chiều nay. Không áo ấm, và không khẩu trang chống bụi. Em để mặc mình mặt mộc, môi trần, mái tóc lòe xòe xơ xác vì gió. Trong cuộc đời mỗi người, dễ có được mấy buổi chiều như chiều nay. Khi mang một trái tim nhẹ tênh, và một tâm hồn bình yên quá đỗi. Cuộc đời vẫn thế, gợn sóng và biết đâu sẽ là những cơn bão đêm. Nhưng, cũng chỉ là một cái nháy mắt, một cái tặc lưỡi thôi mà. Sống, là tận hưởng, là đi qua thật nhanh, thật khẽ.
Em thích những ngày chúng mình yêu nhau như chiều nay. Chạy xe vồn vã đến nhà anh. Ôm anh trong cái ôm tưởng như nghẹt thở, và hôn anh trong những nhung nhớ tưởng như chưa bao giờ có thể khỏa lấp đầy.
em gọi chiều nay là “Chiều Thương”.
Khi nằm ngoan ngoãn trong vòng tay anh, và hít cho căng đầy lồng ngực những mùi vị quen thuộc. Mùi mồ hôi đàn ông, mùi khét lẹt của thuốc lá, và một chút cay nồng còn sót lại của những chén rượu đêm qua. Cứ thế, em ôm anh, bằng tất cả sức lực của mình, để có thể thành một cái ôm tròn đầy nhất.
Cũng có được mấy chiều như chiều nay. Nằm gối đầu lên tay anh, và mơ màng nghĩ về tương lai. Đây không phải lần đầu em nghĩ về tương lai của mình, và mong chờ một bến đỗ bình yên. Nhưng, có phải chăng một chiều mà cảm giác bình yên thấm sâu vào từng thớ thịt, mạch máu và ngay cả trong hơi thở. Nên cảm xúc cũng mềm, cũng nhẹ, và cũng trong veo đi được ấy.
Là một buổi “Chiều Thương” leo lắt những hư hao. Em nghe không gian xung quanh mình chợt như ngừng lại, rớt trong từng lời hát của chị Lý trong bài hát “Cơn bão nghiêng đêm”. Em ôm anh. Và anh ôm em. Nghe rõ hơi thở của người kia rớt trên tóc, và vương trên gò má. Nghe rõ cả hai trái tim cùng đập những nhịp bình yên, mà dù có, dù không của một mùa hạnh phúc phía trước.
Em thích những buổi chiều như chiều nay. Nghe im ắng và tịch mịch đang lần giở những ngón tay thon dài để mở cửa trái tim mình. Một buổi chiều mà dù có váng vất trong những cơn đau đầu, mệt nhoài trong cơn sốt dở, vẫn thấy mỉm cười thật tươi.
em gọi chiều nay là Chiều Thương
trong những cái ôm ngọt lịm của anh.
trong những cái hôn ướt nhòe vì hạnh phúc của anh, của em
trong những hơi thở còn lem mùi khói thuốc
và trong những khoảnh khắc yên vui, gối đầu lên tay anh mà ngủ…
trong những cái hôn ướt nhòe vì hạnh phúc của anh, của em
trong những hơi thở còn lem mùi khói thuốc
và trong những khoảnh khắc yên vui, gối đầu lên tay anh mà ngủ…
Có một buổi chiều nắng hư hao gói trong từng hơi thở
Có một buổi chiều gió chênh chao giấu vào trong giấc mơ
Có một buổi chiều vàng vọt những kỉ niệm nép sâu vào trong thương nhớ
Như chiều nay
Có một buổi chiều gió chênh chao giấu vào trong giấc mơ
Có một buổi chiều vàng vọt những kỉ niệm nép sâu vào trong thương nhớ
Như chiều nay
Là khi nắm tay
Mà biết là thiếu của nhau thêm một cái ôm tròn đầy nữa
Mà biết là thiếu của nhau thêm một nụ hôn tưởng như chẳng bao giờ đủ đầy nữa
Mà biết là thiếu của nhau thêm một lần được gối đầu để nâng vào giấc ngủ
Mà biết là thiếu của nhau thêm một cái ôm tròn đầy nữa
Mà biết là thiếu của nhau thêm một nụ hôn tưởng như chẳng bao giờ đủ đầy nữa
Mà biết là thiếu của nhau thêm một lần được gối đầu để nâng vào giấc ngủ
Tìm một buổi chiều như chiều nay
Nghe những nhịp đập bình yên khe khẽ
Nghe giọng kể đều đều theo nhịp thở về một mùa hạnh phúc yên vui
Nghe cả bầu trời ôm về trong một Chiều Thương nhớ
Nghe những nhịp đập bình yên khe khẽ
Nghe giọng kể đều đều theo nhịp thở về một mùa hạnh phúc yên vui
Nghe cả bầu trời ôm về trong một Chiều Thương nhớ
Em đi tìm anh
Anh đi tìm em
Xoay vần trong những lần đuổi bắt
Và để chúng ta
Tìm thấy nhau
Trong những buổi chiều như chiều nay
Một buổi chiều để cố nhón chân hôn anh thêm một cái hôn nữa
Một buổi chiều để cố vòng tay ôm anh thêm một cái ôm nữa
Trước khi nói lời tạm biệt
Cho những buổi chiều của ngày sau
Anh đi tìm em
Xoay vần trong những lần đuổi bắt
Và để chúng ta
Tìm thấy nhau
Trong những buổi chiều như chiều nay
Một buổi chiều để cố nhón chân hôn anh thêm một cái hôn nữa
Một buổi chiều để cố vòng tay ôm anh thêm một cái ôm nữa
Trước khi nói lời tạm biệt
Cho những buổi chiều của ngày sau
Đại cao thủ - Nakajima Atsushi
03/23/2012 05:51 am
Thành Hàm Đan kinh đô nước Triệu có một người đàn ông tên là Kỷ Xương nuôi chí trở thành tay cung đệ nhất thiên hạ. Trong khi tìm thầy, chàng được biết rằng, về ngạch cung tên hiện nay, không ai sánh được với danh thủ Phi Vệ. Nghe đồn cao thủ này có thể bắn bách phát bách trúng một cái lá liễu cách xa một trăm bước. Kỷ Xương lên đường tới yết kiến Phi Vệ, xin làm học trò của ông ta.
Phi Vệ bảo môn sinh mới của mình rằng trước tiên phải học làm sao không chớp mắt. Kỷ Xương quay về nhà, chui xuống nằm ngửa dưới khung cửi của vợ, mắt dán sát vào cái bàn đạp liên tục nâng lên hạ xuống, cố tập không chớp. Vợ chàng không hiểu nguyên do, rất đỗi ngạc nhiên. Nàng bối rối khi thấy chồng nhìn mình trừng trừng từ một góc độ kỳ cục như vậy. Nhưng Kỷ Xương mắng vợ, bắt nàng tiếp tục dệt. Ngày này qua ngày khác, Kỷ Xương cứ nằm trong cái tư thế kỳ quái đó, tập không chớp mắt. Sau hai năm, mặc cho cái bàn đạp chuyển động sát sạt, cạo đứt cả lông mi, Kỷ Xương đã luyện được nhìn mà không hề chớp mắt. Cuối cùng chàng bò ra khỏi khung cửi. Từ đó, ngay cả nếu bị dùi nhọn chọc vào mí mắt, chàng cũng không chớp mắt nữa. Chàng cũng không chớp mắt khi có tia lửa bất ngờ loé vào mắt. Cả một đám tro thình lình bốc lên ngay trước mắt cũng không làm chàng chớp mắt. Cứ như thể cơ mí mắt của chàng đã quên mất phải chớp như thế nào. Ban đêm, thậm chí khi Kỷ Xương ngủ say như chết, mắt chàng vẫn mở trừng trừng. Cuối cùng, khi một con nhện nhỏ chăng tơ giữa hai hàng lông mi mắt của chàng, chàng cảm thấy tự tin hoàn toàn để thông báo với Phi Vệ sư phụ.
Sau khi nghe, Phi Vệ nói: “Chỉ biết không chớp mắt thôi thì chưa đủ. Tiếp theo là phải học nhìn. Khi nào con học được cách nhìn chăm chú sao cho các vật bé nhỏ thấy như vĩ đại, các vật li ti trở thành rõ mồn một, thì hãy lại đến gặp ta.” Kỷ Xương lại quay về nhà, bắt được trong đường chỉ khâu áo lót một con chấy, buộc nó vào một sợi tóc, đem treo dưới cửa sổ hướng nam, rồi nhìn nó suốt ngày. Chàng nhìn con chấy treo dưới cửa sổ ngày này qua ngày khác. Lúc đầu, tất nhiên đó chỉ là con chấy. Hai ba ngày sau, nó vẫn là con chấy. Tuy nhiên sau mười ngày, con chấy có vẻ như to ra. Hết tháng thứ ba thì rõ ràng nó trông to như con tằm. Thời gian trôi qua, phong cảnh ngoài cửa sổ treo con chấy cũng thay đổi. Ánh mặt trời dịu dàng của mùa xuân đổi thành nắng hè oi bức, bầu trời mùa thu trong trẻo đầy ngỗng trắng bay trên cao chuyển sang vòm trời mùa đông màu tro u ám, lốm đốm tuyết ướt. Kỷ Xương vẫn kiên nhẫn nhìn con động vật chân đốt treo dưới cửa sổ. Con chấy này chết, chàng thay bằng con khác, cứ thế hàng chục con. Thấm thoắt ba năm trôi qua. Cho đến một hôm chàng bỗng nhận ra rằng con chấy treo dưới cửa sổ trông đã to bằng con ngựa. Xong rồi! Chàng sung sướng vỗ đầu gối, chạy ra ngoài đường. Chàng không tin vào mắt mình nữa: người trông cao lớn như toà tháp, ngựa to tựa trái núi, lợn bằng quả đồi, gà qué bằng cái chòi canh. Chàng nhảy cẫng lên, chạy lộn vào nhà, tới trước con chấy treo dưới cửa sổ, lắp một mũi tên làm bằng cọng cỏ sóc bồng vào một cây cung bằng sừng, nhằm con chấy và bắn. Lạ kỳ thay, mũi tên xuyên trúng tim con chấy mà không làm đứt sợi tóc.
Kỷ Xương ngay lập tức đến gặp sư phụ để báo tin. Phi Vệ đấm ngực, nhảy lên khen: “Thế là con đã làm được rồi!” Ngay sau đó, Phi Vệ bắt đầu dẫn dắt Kỷ Xương khám phá mọi bí mật của nghệ thuật nghề bắn cung. Kỷ Xương, đã trải qua năm năm rèn luyện cơ bản về nhìn, tiến bộ nhanh chóng kỳ lạ. Sau mười ngày, chàng đã có thể bắn bách phát bách trúng một cái lá liễu từ khoảng cách một trăm bước. Sau hai mươi ngày, chàng đặt một li nước đầy đến mép lên khuỷu tay phải, giương cung, bắn trúng đích mà nước trong li không nhểu ra ngoài một giọt. Sau một tháng, chàng thử bắn thật nhanh một trăm mũi tên. Mũi tên thứ nhất vừa cắm vào đích, mũi tên thứ hai đã bay tới cắm vào đuôi mũi tên thứ nhất. Ngay lập tức mũi tên thứ ba cắm vào đuôi mũi thứ hai, và cứ thế liên tục. Không mũi tên nào rơi xuống đất, vì mũi tên nào cũng cắm trúng đuôi mũi tên trước nó. Khi chàng bắn xong phát cuối cùng, một trăm mũi tên nối đuôi nhau như một chiếc tên duy nhất dài từ đích tới chiếc cung, và đuôi của mũi tên cuối cùng trông như còn đang mắc vào dây cung. Sư phụ Phi Vệ, đứng nhìn bên cạnh, thốt lên: “Được!”
Hai tháng sau, Kỷ Xương tình cờ về thăm nhà, và cãi lộn với vợ. Để dọa vợ, chàng giương chiếc cung bằng gỗ dâu nhằm vào mắt nàng, bắn một mũi tên bằng trúc. Mũi tên bay lướt sát mắt, cắt đứt ba sợi lông mi, song vợ chàng không hay biết gì, không hề chớp mắt, và vẫn tiếp tục nhiếc móc chồng. Tài nghệ và tốc độ bắn cung của chàng đã đạt tới mức tinh diệu.
Không còn gì để học từ sư phụ nữa, Kỷ Xương đột nhiên le lói có tư tưởng xấu. Suy đi tính lại, chàng thấy giờ đây về môn bắn cung chàng không còn địch thủ nào khác ngoài chính Phi Vệ sư phụ. Để trở thành cao thủ đệ nhất thiên hạ chàng phải tìm cách loại Phi Vệ. Thế là chàng bắt đầu bí mật tìm cơ hội. Cho đến một hôm, trong khi đang đi dạo ngoài đồng, bất chợt chàng thấy Phi Vệ một mình từ xa tiến lại. Sau một thoáng quyết định, Kỷ Xương rút tên, lắp vào cung, nhằm vào sư phụ. Phi Vệ, đoán được ác ý của học trò, cũng ngay lập tức lắp tên, giương cung nhằm vào Kỷ Xương. Cả hai thày trò cùng bắn một lúc. Hai mũi tên đâm vào nhau ở giữa đường, rơi xuống đất mà không có tí bụi nào bay lên. Tài nghệ của cả hai đều đạt tới mức siêu phàm. Họ cứ bắn nhau như thế liên tiếp hết phát này đến phát khác cho đến lúc Phi Vệ hết tên, Kỷ Xương vẫn còn một mũi. Lợi dụng dịp may, Kỷ Xương bắn ngay phát tên cuối cùng. Nhanh như chớp, Phi Vệ nhổ một cành hồng dại bên vệ đường, bắn rụng mũi tên xuống đất. Hy vọng thực hiện mưu đồ đen tối của mình đã tiêu tan, Kỷ Xương bỗng dưng thấy lòng tràn đầy hối hận. Về phía mình, Phi Vệ thở phào vì đã thoát khỏi hiểm nghèo, đồng thời thấy thoả mãn về tài nghệ của chính mình đến quên cả tức giận. Cả hai thày trò lao vào ôm chầm lấy nhau giữa cánh đồng và cùng rơi lệ (Chuyện này xem ra có vẻ kỳ cục theo đạo đức ngày nay. Khi Tề Hoàn Công muốn thưởng thức món mỹ vị mà chưa ai từng nếm thử, quan đầu bếp đã nướng luôn con trai mình đem dâng vua. Cậu thiếu niên 16 tuổi, Tần Thủy Hoàng Đế, ngay trong đêm vua cha mất, đã cưỡng hiếpái thiếp của vua cha ba lần. Câu chuyện này cũng đã xảy ra trong thời đại như vậy.)
Mặc dù vừa ôm Kỷ Xương vừa khóc, Phi Vệ rất lo ngại học trò sẽ lại tấn công mình lần nữa. Vì thế ông ta tìm cách hướng Kỷ Xương tới một mục đích mới để phấn đấu. Ông nói với gã đệ tử nguy hiểm của mình rằng ông không còn gì để dạy cho chàng nữa. Ông còn nói nếu chàng muốn đạt tới bí mật sâu xa của cung thuật thì hãy đi về phía Tây, vượt qua vách núi Đại Hành, leo lên đỉnh ngọn Hoắc Sơn, nơi ẩn dật của Cam Dăng lão sư – đại cao thủ cung thuật của mọi thời đại. “So với tài nghệ của lão sư, cung thuật của chúng ta chỉ là trò chơi của trẻ con,” Phi Vệ nói. “Giờ đây, ngoài Cam Dăng sư phụ ra, không ai có thể làm thầy con được nữa.”
Kỷ Xương lập tức lên đường đi về phía Tây. Lòng tự ái của chàng bị tổn thương khi thấy cung thuật của mình bị coi là “trò trẻ con”. Nếu thực sự như vậy, mục đích trở thành tay cung đệ nhất thiên hạ vẫn còn là một tương lai xa vời. Nôn nóng so tài với người đó để xem cung thuật của mình có đúng chỉ là trò trẻ con không, chàng rảo bước đi thật nhanh. Thủng giầy rách chân trèo lên các vách đá treo leo, băng qua những chiếc cầu khỉ bắc ngang hẻm núi, Kỷ Xương lên tới đỉnh núi sau một tháng.
Ra đón chàng trai hăng hái là một cụ già có đôi mắt hiền như mắt cừu, bước đi lẩy bẩy như sắp ngã. Cụ có lẽ đã ngoại trăm tuổi. Lưng cụ còng thấp khiến chòm râu bạc kéo lê trên mặt đất theo bước đi của cụ. Thấy cụ có vẻ như bị điếc, Kỷ Xương vội cất cao giọng nói mục đích vì sao chàng tới đây. Nôn nóng phô diễn tài bắn cung của mình, Kỷ Xương không đợi cụ trả lời, rút ngay cây cung làm bằng gốc liễu có dây bện bằng sợi gai đang đeo trên lưng ra. Chàng lắp một chiếc tên có mũi làm bằng đá, giương cung, ngắm vào một đàn chim di trú đúng lúc đó đang bay qua trên trời cao. Chàng buông dây, một phát tên phóng lên, ngay lập tức năm con chim to từ trên trời xanh rơi xuống.
“Giỏi theo cách thông thường,” cụ già mỉm cười hiền từ nói. “Nhưng đó chẳng qua vẫn chỉ là xạ chi xạ (bắn bằng bắn) thôi. Hảo hán xem ra vẫn chưa biết thế nào là bất xạ chi xạ (bắn không cần bắn).” Cụ già dẫn Kỷ Xương đang đầy tức tối tới một bờ vực cách đó chừng hai trăm bước. Dưới chân Kỷ Xương mở ra một quang cảnh giống y chang một bức bình phong dựng đứng cao bốn ngàn thước, ở xa tít bên dưới chàng thấy một con suối trông nhỏ như sợi chỉ, một độ cao khiến chàng đột nhiên hoa mày chóng mặt. Cụ già chạy lên một phiến đá chênh vênh nhô ra trên bờ vực, rồi quay lại bảo Kỷ Xương: “Nào, có giỏi thì hãy đứng trên tảng đá này trổ tài cho ta xem.” Đã quá muộn để rút lui! Khi Kỷ Xương leo lên, tảng đá lắc lư. Kỷ Xương cố giữ bình tĩnh lắp tên vào cung. Đúng lúc đó một viên sỏi lăn ra, rơi xuống vực. Nhìn theo viên sỏi rơi, Kỷ Xương nằm bò lên tảng đá lúc nào không hay. Chân chàng run bần bật, mồ hôi tuôn ra chảy tới gót chân. Cụ già cả cười, đưa tay đỡ Kỷ Xương bước khỏi tảng đá, rồi tự mình leo lên, nói: “Bây giờ hãy xem cái gọi là bắn đây này.” Vẫn chưa hết run, mặt tái nhợt, song Kỷ Xương chợt nhận ra và hỏi: “Nhưng, còn cái cung? Lão nhân không có gì trong tay cả.” “Cung à?” Cụ già cười lớn, “Bắn mà vẫn phải cần đến cung tên thì chỉ là xạ chi xạ. Còn bất xạ chi xạ là bắn nhưng không cần cả cung lẫn tên.”
Lúc đó trên trời rất cao ngay phía trên đầu họ một con diều hâu đang dang cánh lặng lẽ lượn vòng. Cụ già Cam Dăng nhìn theo con diều hâu trông nhỏ xíu chỉ bằng một hạt vừng, rồi nhanh như cắt, lắp một mũi tên tưởng tượng vào một cây cung vô hình, giương tròn như trăng rằm và buông tay, nhìn kìa, con diều hâu ngừng vỗ cánh, rơi xuống chẳng khác gì một hòn đá. Kỷ Xương kinh hoàng. Lần đầu tiên chàng được chứng kiến bí mật uyên thâm nhất của nghệ thuật bắn cung.
Kỷ Xương ở lại học lão cao thủ trong suốt chín năm trời. Không ai biết chàng đã tu nghiệp như thế nào trong quãng thời gian đó. Sau chín năm, khi chàng xuống núi trở về, mọi người thảy đều ngạc nhiên thấy vẻ mặt chàng đã biến đổi nhiều. Không còn tí bóng dáng nào của vẻ hiếu thắng hung hăng trước kia. Thay vào đó là dung mạo ngây ngô như tượng gỗ của một người ngu độn. Tuy nhiên, khi Kỷ Xương đến thăm thầy cũ, sau bao năm không gặp, thoạt nhìn thấy vẻ mặt Kỷ Xương, Phi Vệ đã cảm thán kêu lên: “Đây chính là đại cao thủ đệ nhất thiên hạ! Chúng ta sẽ không bao giờ có thể bì kịp anh ta.”
Dân thành Hàm Đan nô nức chào đón cao thủ đệ nhất thiên hạ trở về. Họ chờ đợi một cuộc trình diễn tài nghệ bắn cung của chàng. Nhưng Kỷ Xương không đáp ứng nguyện vọng của họ. Ngay cái cung chàng cũng không sờ đến. Có vẻ như chàng đã quăng đi đâu mất cả chiếc cung làm bằng gốc liễu có dây bện bằng sợi gai mà khi xưa chàng từng đem theo lên núi. Khi có người tới chơi hỏi lý do, Kỷ Xương uể oải trả lời: “Tột đỉnh của hành động là không làm gi hết. Tột đỉnh của lời nói là im lặng. Tột đỉnh của bắn là không bắn.” À ra thế! Những người dân vốn rất thông thái của thành Hàm Đan hiểu ngay lập tức. Nhà đại cao thủ không cần sờ đến cây cung đã trở thành niềm tự hào của họ. Kỷ Xương càng không động đến cung tên, danh tiếng về sự vô địch của chàng lại càng được bàn tán ầm ĩ.
Nhiều lời đồn được truyền miệng từ người này sang người khác. Người ta nói rằng ban đêm, cứ đến canh ba, có ai đó luyện cung trên mái nhà Kỷ Xương, nghe rõ cả tiếng dây cung bật. Có người quả quyết đó là vị thần hộ mệnh ẩn náu trong mình nhà đại cao thủ, ban đêm thoát ra khi chàng ngủ để triệt mọi yêu ma định hãm hại chàng. Một thương nhân sống gần nhà chàng nói rằng có đêm đã thấy chàng, rõ ràng cầm cung trong tay, cưỡi mây bay trên mái nhà, đọ tài với hai bậc đại cao thủ xạ thuật đời xưa là Hậu Nghệ và Dưỡng Do Cơ. Những mũi tên ba vị này phóng ra vạch những tia sáng xanh sắc nhọn trên nền trời đêm trước khi biến mất giữa sao Sâm và sao Thiên Lang. Một tên đạo tặc thú nhận có lần định lẻn vào nhà Kỷ Xương, song khi hắn vừa trèo lên bờ tường thì bỗng một luồng sát khí từ trong nhà phóng ra, trúng vào giữa trán, làm hắn ta ngã lăn từ trên tường xuống đất bất tỉnh. Từ đó, bọn tâm địa gian tà đều tránh xa vùng quanh nhà Kỷ Xương, và những bầy chim di trú thông minh cũng không dám bay trên mái nhà chàng nữa.
Danh tiếng lan truyền tận mây xanh, song Kỷ Xương ngày một già đi. Tâm trí đã từ lâu không còn vương vấn tới cung tên của ông có vẻ như ngày càng nhập vào cõi thanh khô, đạm bạc, hư ảo và yên tĩnh. Vẻ mặt vốn đã như tượng gỗ của ông nay lại mất cả mọi biểu hiện. Ông hầu như không cất tiếng. Cuối cùng, người ta không chắc ông còn thở hay không. Những năm cuối đời, lão cao thủ còn nói ông không phân biệt được đâu là mình đâu là người khác, không biết đâu là đúng đâu là sai. Đối với ông mắt cũng như tai, tai cũng như mũi, mũi cũng như mồm.
Bốn mươi năm sau khi từ biệt Cam Dăng sư phụ xuống núi, Kỷ Xương từ giã cõi đời, lặng lẽ như một làn khói. Trong bốn mươi năm cuối cùng ấy, ông không hề nhắc tới xạ thuật, nói chi sờ đến cung tên. Lẽ dĩ nhiên, là một người viết truyện, tôi muốn ông sắm một vai quan trọng trong một sự kiện kích động nào đó để chứng minh cho tài dụng cung siêu phàm của ông. Song, tôi không muốn bóp méo các sự thật đã được ghi trong sử sách. Thực sự là người ta không biết gì về những năm cuối đời ông, ngoài câu chuyện được lưu truyền sau đây.
Chuyện xảy ra khoảng một hai năm trước khi ông qua đời. Một hôm, Kỷ Xương đến chơi nhà một người bạn. Tại đây ông nhìn thấy một vật, mà ông nhớ đó là một dụng cụ song không thể nhớ nổi tên và công dụng của nó. Ông bèn hỏi chủ nhà tên dụng cụ đó là gì và nó được dùng để làm gì. Cho rằng khách hỏi đùa, chủ nhà cười to, làm ra vẻ không biết. Ông lão Kỷ Xương nghiêm nghị nhắc lại câu hỏi. Song chủ nhà không hiểu ý khách, vẫn bối rối cười trừ. Khi Kỷ Xương làm nghiêm nét mặt hỏi lại lần thứ ba thì vẻ kinh ngạc bắt đầu hiện ra trên mặt chủ nhà. Ông ta nhìn trân trân vào mắt Kỷ Xương. Sau khi tin chắc rằng khách không đùa, không điên, và tai mình nghe không nhầm, chủ nhà kinh hãi lắp bắp kêu lên: “Trời đất, thưa phu tử – cao thủ xạ thuật kim cổ vô song, ngài thật sự quên cả cái cung rồi sao? Quên cả tên gọi lẫn công dụng của nó?”
Sau đó ít lâu, tại thành Hàm Đan, hoạ sĩ giấu bút vẽ, nhạc công dứt đứt dây đàn, thợ mộc coi dùng thước là một sự sỉ nhục.
Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết..
Khổng Tử nói: “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy”.
Nhưng làm sao ta có thể biết ta không biết điều gì?
Thường thì ta biết ta biết điều gì—ví dụ nếu ta đã học nhạc 3 năm thì ta biết ta biết nhạc với kiến thức của người đã học nhạc 3 năm.
Nhưng nếu có một hành tinh như trái đất và một loại sinh linh gần giống người trên hành tinh đó, cách ta mấy trăm triệu năm ánh sáng. Chẳng ai biết sự hiệu hữu của hành tinh đó cả, thì làm sao ta biết là ta không biết đến hành tinh đó?
Có lẽ là một chú chim thì rất rành về cây cỏ và các con giun. Nhưng làm sao chú chim biết được gì về không khí, để mà nói “tôi không biết gì về không khí”?
Nàng ngồi đợi cơm 3 tiếng đồng hồ, và chàng về nhà là nằm vật ngay xuống giường nằm ngủ, và nàng nói “em đợi cơm từ 8 giờ tối”. Nếu đó là một người đàn ông vô cảm, làm sao anh ta biết được là anh ta vô cảm, chẳng biết gì về tình cảm phụ nữ cả.
Bạn không biết điều bạn không biết. You don’t know what you don’t know.
Chính vì vậy mà chúng ta thường thấy có rất nhiều người, kể cả chúng ta, có thể nói tràng giang đại hải với người khác về một vấn đề mà ta chẳng biết gì cả, vì ta không biết là ta không biết.
Cho nên chúng ta phải rất rất rất nhạy cảm về điều ta không biết.
Nếu người nào đó có kinh nghiệm về việc gì đó—như là một đầu bếp nói về cho gia vị vào thức ăn—và ta không rành việc bếp núc, thì nên nhận ra ngay là ta không biết gì về việc cho gia vị này, và ta đang ngồi trước thầy, và hãy học cho kỹ.
Nếu ta nói về một việc gì, và người nghe nhẹ nhàng bổ sung hay chỉnh sửa lời ta một chút, dù là rất nhẹ nhàng như gió thoảng (vì người ta lịch sự), thì ta nên nhạy cảm là ta có thể đang nói điều ta không biết.
Muốn nhạy cảm như thế, ta phải là người rất khiêm tốn, rất sẵn sàng học hỏi, và luôn luôn nhận bất cứ ai biết nhiều hơn mình trong một lĩnh vực là thầy của mình trong lĩnh vực đó.
Đó chính là không biết thì nói là không biết.
Không khó để thực tập. Chỉ cần khiêm tốn, hiếu học và nhạy cảm.
Chúc các bạn một ngày rất biết.
Trần Đình Hoành
Ghét tội, yêu người có tội.
“Ghét tội, yêu người có tội” là một hình thức nói khác đi của “yêu người vô điều kiện”. Ghét tội trộm cắp, nhưng yêu người trộm cắp—ít nhất là thương cảm sự ngu dốt si mê của chúng hắn. (Nếu nói về ngu dốt si mê thì ta có thể thực sự thương cả loài người, chẳng loại trừ ai!).
Phân biệt điều xấu và người làm xấu, nhiều người không làm được, vì chúng ta thường quen cảm xúc theo nhãn hiệu—tôi ghét việc ăn cắp, ai mà bị tôi gắn nhãn hiệu “ăn cắp” là tôi cũng ghét luôn.
Nhưng thực sự là, ta không phân biệt điều xấu và người làm điều xấu được vì ta không muốn phân biệt, chứ không phải vì quá khó khăn để phân biệt. Ai trong chúng ta cũng đã từng phân biệt nhiều lần rồi.
Ví dụ: Ta có một đứa em nhỏ ta rất thương. Hắn dại dột sang nhà hàng xóm ăn trộm trái cam. Người hàng xóm nói cho ta biết. Và ta cho hắn mấy roi bỏng mông, giảng cho một bài thật dài. Nhưng trong lòng ta đương nhiên là vẫn rất thương em. Đó chính là ghét tội, nhưng yêu người có tội.
Ta chỉ cần đem kinh nghiệm này ra để ứng xử với thế giới bên ngoài.
Con người ai cũng bị hành hạ vì tham sân si. Đó là cái khổ của con người. Ai cũng tham sân si, không phải vì họ muốn tham sân si. Nhưng có lẽ đời sống trong xã hội con người có nhiều giành giật làm, cho mọi con người đều học được tham sân si trong môi trường xã hội. Chưa học được cởi bỏ tham sân si là khổ.
Nếu ta thấy được cái khổ đó của mọi con người, thì rất dễ cho ta thương cảm họ, dù họ là ai.
Chỉ cần ngồi “quán” kiếp sống của con người, những điều dại dột ngu dốt mà con người, kể cả chính ta, hay vướng phải, thì đương nhiên là ta phải thương con người và thương chính ta.
Nếu ta cảm thấy thương con người thì ta thương tất cả mọi người, không loại trừ ai. Đó là yêu người vô điều kiện.
Yêu mọi người, vô điều kiện, thật sự là rất dễ hơn ta tưởng.
Hãy nhìn sâu vào đời người mà thương con người.
Và vì thế, ta có thể ghét những điều ác, nhưng vẫn có thể tội nghiệp người làm ác.
Chúc các bạn một ngày yêu người có tội.
Trần Đình Hoành.
Trần Đình Hoành.
KHÔNG THOÁT LI ĐƯỢC CÕI TRẦN..
tạp văn của Lâm Ngữ Đường
chuyển ngữ : Nguyễn Hiến Lê
Vậy tình thế của loài người như vầy: chúng ta muốn sống nhưng phải sống trên trái đất này chứ không phải sống trên trời. Đừng để cho óc ta cất cánh bay bổng lên thế giới của các vị thần rồi mà quên khuấy kiếp trần đi.
Chúng ta đâu có bất tử như các vị thần? Chúng ta sẽ chết kia mà. Đối với ai muốn sống hoài, bất tử, thì cái đời người sáu bảy chục năm quả là ngắn ngủi, nhưng đối với người nào biết khiêm tốn một chút thì bấy nhiêu cũng khá dài rồi đấy. Trong bảy chục năm học hỏi được nhiều lắm chứ mà hưởng thụ cũng được nhiều lắm chứ. Sống bảy chục tuổi thì được nhìn thấy đời mình, đời con mình, đời cháu mình, thế là ba thế hệ ; được mục kích những cái ngu xuẩn và học những cái khôn của loài người trong ba thế hệ, nhiều đấy chứ! Người nào khôn thì tới cái tuổi đó, sau khi được chứng kiến biết bao sự thay đổi về thời trang, về phong tục, luân lí, chính trị, tất phải thỏa mãn lắm, đứng dậy ra về mà khen rằng: “Vở tuồng hay quá” trong khi bức màn từ từ hạ xuống.
Vì chúng ta trần tục, sinh trên cõi trần, nên không thể thoát li trần thế được. Trên cõi trần này chúng ta chỉ là những khách qua đường, nhưng như vậy có gì đâu để mà than thở? Dù cõi trần này chỉ là một khám đường u ám, thì cũng cứ chuẩn bị đời sống được chừng nào hay chừng đó; mà thực ra nó không phải là một khám đường, nó là một vũ trụ cực đẹp đẽ để tiếp đón ta trong già nửa một thế kỉ; không tận lực chuẩn bị đời sống của ta cho được mĩ mãn thì chẳng hóa ra ta là người vong ân bạc nghĩa ư? Đôi khi chúng ta tham lam quá, tỏ vẻ miệt thị trái đất tầm thường mà lại rất khoan hồng, nhân từ này. Đáng lẽ chúng ta phải có cảm tình, phải thực tâm yêu mến bà Mẹ của vạn vật đó chứ, phải quyến luyến với cái nơi mà ta gởi tạm cái thể xác cùng tinh thần của ta đó chứ.
Ta nên như Thoreau – một nhà văn Mĩ theo chủ nghĩa tự nhiên ở thế kỉ 19 – coi mình như đồng loại với trái đất và cũng như trái đất, gặp mùa đông thì cứ nhẫn nại đợi một tia nắng xuân. Dù sao, trần thế mới là chân thực, thiên đường chỉ là hư ảo: được sinh ở giữa cái khoảng chân thực và hư ảo đó, quả là hạnh phúc cho loài người.
Bất kì một triết lí thực tế, lương hảo nào cũng phải thừa nhận rằng chúng ta có một thể xác. Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng mình là loại động vật; từ khi có những tấn bộ về khoa sinh vật học, nhất là về khoa sinh-hóa học (sinh vật và hóa học) thì điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Khốn thay, các vị “sư”, các triết gia của ta lại thuộc vào cái giới mệnh danh là tri thức, mà các nhà tri thức lại tự hào về cái tinh thần của họ cũng như các bác thợ giày tự hào về miếng da họ dùng. Đôi khi các nhà đó cho danh từ “tinh thần” chưa được mắc mỏ, trừu tượng mà dùng những danh từ “tinh túy”, “linh hồn” và viết bằng chữ hoa để nhát ta. Thế là trong cái xưởng học thuật, thân xác con người đã biến thành tinh thần, rồi kết đặt lại thành “tinh túy”, nhưng người ta quên rằng ngay như chất rượu kia, sở dĩ ta uống được là vì nó có một “thực thể”, chứ nếu chỉ có “tinh túy” không thôi thì làm sao uống cho vô . Và bọn phàm nhân tội nghiệp chúng ta lại phải uống cái “tinh túy ngưng tụ ” đó. Cái thái độ quá trọng tinh thần đó thật là tai hại, làm cho người ta không nhận thức được đầy đủ bản chất con người. Sở dĩ nó phát sinh là vì người ta không hiểu rõ về sinh vật học, tâm lí học, về nghĩa vụ của ngũ quan, của cảm xúc và nhất là của bản năng trong đời sống. Con người đã do nhục thể và tinh thần tạo thành thì nhiệm vụ đầu tiên của triết học là phải trỏ cho ta rằng hai phần đó điều hòa nhau.
chuyển ngữ : Nguyễn Hiến Lê
Vậy tình thế của loài người như vầy: chúng ta muốn sống nhưng phải sống trên trái đất này chứ không phải sống trên trời. Đừng để cho óc ta cất cánh bay bổng lên thế giới của các vị thần rồi mà quên khuấy kiếp trần đi.
Chúng ta đâu có bất tử như các vị thần? Chúng ta sẽ chết kia mà. Đối với ai muốn sống hoài, bất tử, thì cái đời người sáu bảy chục năm quả là ngắn ngủi, nhưng đối với người nào biết khiêm tốn một chút thì bấy nhiêu cũng khá dài rồi đấy. Trong bảy chục năm học hỏi được nhiều lắm chứ mà hưởng thụ cũng được nhiều lắm chứ. Sống bảy chục tuổi thì được nhìn thấy đời mình, đời con mình, đời cháu mình, thế là ba thế hệ ; được mục kích những cái ngu xuẩn và học những cái khôn của loài người trong ba thế hệ, nhiều đấy chứ! Người nào khôn thì tới cái tuổi đó, sau khi được chứng kiến biết bao sự thay đổi về thời trang, về phong tục, luân lí, chính trị, tất phải thỏa mãn lắm, đứng dậy ra về mà khen rằng: “Vở tuồng hay quá” trong khi bức màn từ từ hạ xuống.
Vì chúng ta trần tục, sinh trên cõi trần, nên không thể thoát li trần thế được. Trên cõi trần này chúng ta chỉ là những khách qua đường, nhưng như vậy có gì đâu để mà than thở? Dù cõi trần này chỉ là một khám đường u ám, thì cũng cứ chuẩn bị đời sống được chừng nào hay chừng đó; mà thực ra nó không phải là một khám đường, nó là một vũ trụ cực đẹp đẽ để tiếp đón ta trong già nửa một thế kỉ; không tận lực chuẩn bị đời sống của ta cho được mĩ mãn thì chẳng hóa ra ta là người vong ân bạc nghĩa ư? Đôi khi chúng ta tham lam quá, tỏ vẻ miệt thị trái đất tầm thường mà lại rất khoan hồng, nhân từ này. Đáng lẽ chúng ta phải có cảm tình, phải thực tâm yêu mến bà Mẹ của vạn vật đó chứ, phải quyến luyến với cái nơi mà ta gởi tạm cái thể xác cùng tinh thần của ta đó chứ.
Ta nên như Thoreau – một nhà văn Mĩ theo chủ nghĩa tự nhiên ở thế kỉ 19 – coi mình như đồng loại với trái đất và cũng như trái đất, gặp mùa đông thì cứ nhẫn nại đợi một tia nắng xuân. Dù sao, trần thế mới là chân thực, thiên đường chỉ là hư ảo: được sinh ở giữa cái khoảng chân thực và hư ảo đó, quả là hạnh phúc cho loài người.
Bất kì một triết lí thực tế, lương hảo nào cũng phải thừa nhận rằng chúng ta có một thể xác. Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng mình là loại động vật; từ khi có những tấn bộ về khoa sinh vật học, nhất là về khoa sinh-hóa học (sinh vật và hóa học) thì điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Khốn thay, các vị “sư”, các triết gia của ta lại thuộc vào cái giới mệnh danh là tri thức, mà các nhà tri thức lại tự hào về cái tinh thần của họ cũng như các bác thợ giày tự hào về miếng da họ dùng. Đôi khi các nhà đó cho danh từ “tinh thần” chưa được mắc mỏ, trừu tượng mà dùng những danh từ “tinh túy”, “linh hồn” và viết bằng chữ hoa để nhát ta. Thế là trong cái xưởng học thuật, thân xác con người đã biến thành tinh thần, rồi kết đặt lại thành “tinh túy”, nhưng người ta quên rằng ngay như chất rượu kia, sở dĩ ta uống được là vì nó có một “thực thể”, chứ nếu chỉ có “tinh túy” không thôi thì làm sao uống cho vô . Và bọn phàm nhân tội nghiệp chúng ta lại phải uống cái “tinh túy ngưng tụ ” đó. Cái thái độ quá trọng tinh thần đó thật là tai hại, làm cho người ta không nhận thức được đầy đủ bản chất con người. Sở dĩ nó phát sinh là vì người ta không hiểu rõ về sinh vật học, tâm lí học, về nghĩa vụ của ngũ quan, của cảm xúc và nhất là của bản năng trong đời sống. Con người đã do nhục thể và tinh thần tạo thành thì nhiệm vụ đầu tiên của triết học là phải trỏ cho ta rằng hai phần đó điều hòa nhau.
Con Rối Muốn Làm Người..
Ngày nảy ngày nay tại một thành phố xinh đẹp, có một con rối tóc dài mượt như nhung, đôi mắt to tròn, cái miệng dễ thương luôn cười rất xinh xắn. Con rối xinh xắn đó tên là ... À, mà không biết cũng được, đâu có gì quan trọng đâu.
Con rối đi theo đoàn rối biểu diễn ở khắp nơi. Ở mỗi nơi nó mang một cái tên khác nhau, một cái vai khác nhau. Ở mỗi nơi nó đều được người ta yêu thích và hoan nghênh nhiệt liệt.
Một hôm, con rối nằm mơ thấy một vị thần nói với nó rằng:
"Này con rối, con đã sống rất tốt trên đời, con có thể trở thành ngừơi đấy, con có muốn làm người không?"
Con rối trả lời:
- Con muốn làm người.
"Vậy thì con hãy để ngừơi ta gọi tên thật của con, tên con là ... Đó là một cái tên mà rất nhiều người cho là xấu xí, nhưng chỉ cần người khác gọi tên con và yêu thương cái tên đó thì con sẽ trở thành người"
Con rối trả lời :
- Nhưng cái tên đó làm sao người ta chịu gọi tên con ? Sao ngài không cho con một cái tên khác ?
Vị thần trả lời "Tên con do số phận đặt, không phải ta". Nói rồi, Ngài biến mất.
Năm này qua năm khác, con rối cười, con rối khóc, con rối cử động dưới những sợi dây. Con rối kết bạn với những con rối khác và những con người, thân có, sơ giao có, nhưng cũng không ai biết đến tên thật của nó. Nhưng con rối luôn muốn làm người.
Đến một ngày, con rối quyết định nói cho người ta nghe tên của mình. Con rối đến bên cô bé bán kem - bạn thân của con rối hơn một năm qua và nói rằng:
- Cô bé bán kem ơi, tôi đã chơi với cô hơn một năm rồi, nhưng cô chưa bao giờ biết đến tên thật của tôi. Bây giờ tôi muốn cô biết.
Cô bé bán kem dù ngạc nhiên nhưng vẫn mỉm cười trả lời:
- Bạn rối hãy nói cho tôi nghe tên của bạn đi. Tôi là bạn thân của bạn, tôi muốn biết tên của bạn.
- Nhưng tên của tôi có thể cô bé sẽ thấy xấu lắm...
- Có gì đâu! Dù xấu như thế nào đi nữa chẳng phải bạn luôn là bạn tôi sao? Bạn cứ nói đi, đừng ngại...
Con rối chăm chú nhìn cô bé, rồi khẽ ghé miệng sát vào:
- Tên tôi là...
- Aaaaaaaaaaaaaaaa... - Cô bé bán kem hoảng hốt, khuôn mặt xanh xao và bất thần.
Rồi cô bé bán kem xa dần, xa dần, không còn nói chuyện với con rối nữa. Cô bé bán kem xem con rối như là quái vật. Con rối buồn... buồn lắm. Nhưng con rối không bỏ cuộc vì nó không muốn cô đơn, nó muốn có người gọi tên của nó. Nó muốn có ngừơi yêu thương nó và cái tên ấy. Nó muốn được làm người.
Một ngày kia, con rối đến bên người chăn bò - bạn thân của con rối đã năm năm và nói rằng:
- Anh chăn bò ơi, tôi và anh đã làm bạn năm năm rồi nhưng chưa bao giờ anh biết đến tên thật của tôi. Tôi muốn nói cho anh nghe vì tôi muốn có người gọi tên tôi.
Người chăn bỏ dù ngạc nhiên nhưng vẫn mỉm cười trả lời:
- Bạn hãy nói đi. Tôi là bạn của bạn, tôi muốn biết tên thật của bạn lắm.
- Nhưng tên của tôi có thể anh sẽ thấy xấu lắm...
- Có gì đâu! Dù xấu như thế nào đi nữa chẳng phải bạn luôn là bạn tôi sao ? Bạn cứ nói đi, đừng ngại...
Con rối chăm chú nhìn người chăn bò, rồi khẽ ghé miệng sát vào:
- Tên tôi là...
Ngừơi chăn bò cũng ít nói chuyện dần, rồi xa dần, xa dần con rối. Người chăn bò xem con rối như là quái vật. Con rối buồn... buồn lắm.
Bạn bè của con rối bảo "Mày đừng nói cho người ta biết tên thật nữa, người ta rồi sẽ bỏ rơi mày, khinh miệt mày như chúng tao mà thôi". Một con rối khác nói "Mày không thể làm người được đâu". Nhưng con rối không bỏ cuộc vì nó không muốn cô đơn, nó muốn có người gọi tên của nó. Nó muốn có người yêu thương nó ngay cả khi biết đựơc cái tên. Nó muốn được làm người.
Con rối đến bên người cha đã tạo ra nó và nói rằng:
- Cha ơi, cha đã tạo ra tôi, cha đã cho tôi hình hài này, vóc dáng này, từ con mắt đến bàn tay. Cha đã nuôi tôi, đã cho tôi những vai diễn. Tôi cám ơn cha nhiều lắm. Tôi yêu cha nhiều lắm. Tôi muốn nói cho cha nghe tên thật của mình.
Người tạo ra con rối ngạc nhiên và bảo:
- Tên thật? Không phải ta đã đặt cho con một cái tên sao? Tên của con là ...
Con rối lắc đầu:
- Không phải đâu cha ơi! Đó là tên cha đặt, còn tên mà số phận đặt cho tôi không phải như thế.
Người tạo ra con rối nheo mắt suy nghĩ rồi ôm lấy con rối vào lòng:
- Thế tên thật mà số phận đã đặt cho con là gì, con của ta?
- Nhưng tên của tôi có thể cha sẽ thấy xấu lắm...
- Dù xấu như thế nào đi nữa thì con vẫn là con của ta, ta là người đã sinh ra con, cho dù tất cả mọi người có bỏ rơi con thì ta vẫn còn đó.
Con rối chăm chú nhìn người đã tạo ra nó, rồi khẽ ghé miệng sát vào:
- Tên của tôi là ...
Người tạo ra con rối lên tim và ngất xỉu ngay tại chỗ. Sau khi được người ta cấp cứu và dưỡng bệnh một thời gian, ông dù rất yêu thương và rất nhớ con rối nhưng cũng không bao giờ muốn gặp nó, không bao giờ muốn nó bước chân vào nhà ông nữa. Ông không thể chấp nhận mình đã tạo ra một con rối như thế này. Ông xem con rối như một quái vật.
Con rối buồn lắm...
... và nó ra đi.
Con rối vẫn đi, nó cùng với những con rối khác diễn những vở diễn vĩ đại của cuộc đời. Nó đi rất nhiều nơi. Nó có rất nhiều tiền. Ở mỗi nơi nó mang một cái tên khác nhau, một cái vai khác nhau. Ở mỗi nơi nó đều được người ta yêu thích và hoan nghênh nhiệt liệt nhưng mà có ai biết đến tên của nó đâu. Và nó cũng không muốn người ta biết đến cái tên của nó nữa... một cái tên ai cũng cho là xấu xí.
Con rối vẫn cười bằng gương mặt người ta đã vẽ cho mình, vẫn diễn bằng những kịch bản mà người ta giao cho nó, nói những câu người ta thích nghe, làm những thứ người ta thích nhìn. Đôi khi nó cũng tự viết kịch bản cho mình nhưng đó là những kịch bản trong im lặng.
Ngày nảy ngày nay có một con rối, con rối có tên là ..... và mấy chục năm sống trên đời vẫn không ai gọi tên nó.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
