NGỤ NGÔN

Ta bạt mạng kéo theo người bạt mạng

Nên cơn vui thường kéo theo cực hình

Nên tương lai bằn bặt ở lòng mình

Nên bất hạnh ngập đầu ai vô tội

Người mới lớn cửa hồn chưa bám bụi

Vội vàng chi mở rộng cánh tin yêu ?

Biết đâu ta lẩn quẩn một đời, liều

Chuyên đội lốt thánh nhân đi ... lường gạt

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Lấy và bỏ..


Lúc mới sinh ra, con người ta chỉ biết lấy vào. Đã lấy được sinh mệnh rồi, còn phải lấy thức ăn mà lớn lên; phải học hỏi để lấy kiến thức và có đủ bản lĩnh để tồn tại trên đời.

 
“Lấy” là một loại bản lĩnh, “bỏ” lại là một môn triết học. Người không có năng lực không thể lấy đủ, người chưa thông ngộ thì không thể vứt bỏ.
 
Trước khi vứt bỏ, cần phải lấy vào, có lấy vào mới có thể vứt bỏ; lấy vào nhiều thường phải vứt bớt đi mới có thể tiếp tục lấy vào. Cho nên, “lấy” và “bỏ” tuy có nghĩa trái nhau, song là hai mặt của một sự việc.
 
Lúc mới sinh ra, con người ta chỉ biết lấy vào. Đã lấy được sinh mệnh rồi, còn phải lấy thức ăn mà lớn lên, phải học hỏi để lấy kiến thức và có đủ bản lĩnh để tồn tại trên đời.
 
Khi đã trưởng thành, cần vừa lấy mà cần vừa bỏ, đã có thịt nai thì phải bỏ cá thu, muốn có lợi lộc thì phải chịu mất cuộc sống an nhàn hoặc để giành quyền vị phải chịu mất cả sự an bình.
 
Đến khi về già lại càng phải biết vứt bỏ, giống như người leo núi phải biết phòng nguy, người đi thuyền gặp nguy hiểm trước hết phải vứt bỏ những hành lý không thật cần thiết; rơi vào cảnh lâm nguy, ngoài tính mệnh ra mọi thứ khác đều không thể giữ. Cho nên đến thời kỳ này, bỏ nhiều hơn lấy rất nhiều. Không biết vứt bỏ, không biết lường sức mạnh của mình, sẽ thường bị thất bại, sẽ mất luôn cả chì lẫn chài.
 
Đời người, hóa ra là: càng lấy nhiều sẽ càng được ít, càng bỏ nhiều sẽ càng được nhiều, vì sao lại như vậy?
 
Câu trả lời là: Thời niên thiếu lấy “nhiều”; thời tráng niên lấy “chắc”; đến tuổi già thì lấy cho “tinh”. Thiếu thời phải vứt bỏ những thứ không thể lấy được; thời tráng niên phải vứt bỏ những thứ không đáng lấy; đến tuổi già phải vứt bỏ những thứ ta không cần có.

Sự trớ trêu của nhan sắc..


Có một người bạn nói với tôi rằng, mỗi người phụ nữ sẽ có sức hút ở một mặt nào đó. Và người quý mến cô ta là người nhìn thấy điều đó, bị hấp dẫn bởi cái điểm đó.
Tôi bỗng nhiên, ngay trong khoảnh khắc đó, nhớ lại tất cả những gương mặt xinh đẹp tôi đã gặp suốt mười lăm năm qua.
Vì sao lại là những gương mặt xinh đẹp?
1. Gương mặt tình nhân và gương mặt phu nhân:
Tôi nhớ thời điểm đúng mười lăm năm trước, khi tôi chỉ là một tay chạy lông bông đi đếm giầy tại một xưởng gia công liên doanh của công ty giầy Hiệp Hưng, tôi đã gặp rất nhiều người đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Không hiểu sao đều là những người đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Đến mức đám thợ gái trong xưởng phải ngoái nhìn cả cái khoảng không nơi họ vừa đi khỏi. Những cô gái trẻ, đẹp từ cái liếc mắt trở đi, đẹp từ một cái vẫy tay, một dáng đứng yêu kiều, một sợi tóc tơ xõa xuống trán, hay ngay cả bầu không khí bao quanh những cô ấy cũng duyên dáng.
Họ đều là tình nhân của những ông chủ Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. Là thư ký kiêm tình nhân. Là trợ lý kiêm tình nhân. Là tình nhân kiêm thư ký.
Họ biết ngoại ngữ đủ giao tiếp, nhưng nhan sắc thì lộng lẫy, trang điểm và ăn mặc sang trọng, trang sức tinh tế. Những người đẹp đi duyên dáng như một dòng nước chảy, đứng yên kiều diễm như một làn hương. Tôi nghĩ chắc chắn tôi không phải là người duy nhất thầm ghen tị mỗi khi nghĩ đến những cô gái có nhan sắc hút hồn người ấy.
Mỗi buổi sáng, tôi đều dận đôi giày vải chạy đi chạy lại trong những kho hàng và dây chuyền sản xuất, chạy theo các mệnh lệnh của các người đẹp đứng bên các ông chủ ngoại. Thực chất những cô thư ký tình nhân cũng không cần ra lệnh, hay nói bất kỳ tiếng nào. Bởi chúng tôi luôn biết cần làm gì vào lúc nào, chủ thường chọn kiểm những cái gì trong mỗi mã hàng. Và trong đầu luôn có ý nghĩ, vì sao có những người phụ nữ sinh ra đã xinh đẹp đến thế, phải chăng chính nhan sắc của họ đã khiến họ đang đứng ở vị trí được đại gia ưu ái, và nhan sắc cũng khiến những người phụ nữ còn lại còng lưng bên máy khâu giầy mười bốn tiếng một ngày?
Nhưng có một điều cực kỳ đặc biệt, bà vợ thực sự của những ông chủ ngoại kia, thỉnh thoảng cũng xuất hiện ở công ty tôi vào buổi chiều. Họ tay hòm chìa khóa, đi làm công nợ, họ thường xuất hiện một mình mà không đi cùng chồng, làm việc với kế toán trưởng hoặc giám sát những đơn hàng xuất nhập giữa họ và công ty tôi. Họ mới là người đàn bà có quyền lực, giữ tiền và giữ ông chồng thành đạt kia. Họ có người là Hoa kiều, có người là ngoại kiều, cũng có người là người vợ Việt trăm phần trăm, nhưng đều năng động quyền biến, đều có địa vị bà chủ vững chắc.
Và họ có điểm chung là nhan sắc đều xấu, những bà vợ buổi chiều xấu vô kể nếu so với cô tình nhân buổi sáng đứng bên người đàn ông. Những bà vợ đại gia có nhan sắc trung bình, mũi to, mặt tròn xoe, hoặc mũi tẹt, lùn, gò má đầy, bàn tay thô hoặc béo, ngoại hình tầm thường, nhan sắc đạt điểm 5/10 là may. Có bà chủ tính nết thuần hậu, cũng có bà ghê gớm sắc sảo, nhìn nhân viên chúng tôi bằng nửa con mắt.
Rất nhiều lần chúng tôi chỉ ngồi bàn về nhan sắc của những phụ nữ làm bồ và làm vợ của những ông chủ. Và đều không hiểu vì sao, những cô nàng xinh đẹp kiều diễm kia không thể trở thành phu nhân? Cũng không hiểu vì sao, người đàn ông thành đạt không đổi vợ? Dù rõ ràng, họ có trong tay cả hai người đàn bà. Và nói như một người bạn tôi, đàn ông chỉ cần hô “Đằng sau quay, một hai bước đều!” là người đàn bà đứng sau lưng bỗng nhiên đổi địa vị lên đầu.
Nếu như đàn ông muốn.
Nhưng mãi mãi chúng tôi không bao giờ giải mã được bí ẩn của những người đàn bà đứng ở vị trí phu nhân và tình nhân. Nếu chỉ là nhan sắc, hình như không đủ để tình nhân thành phu nhân. Nếu chỉ là vấn đề người đàn bà nào đến trước trong đời người đàn ông giàu có, cũng chưa hẳn. Bởi hôn nhân chắc chắn không phải là mối quan hệ kiểu xếp hàng thời mậu dịch, hết lượt tôi sẽ đến… nàng!
Nếu nói về hạnh vận, may mắn, cũng chưa hẳn, bởi nếu người đàn bà tình nhân may mắn, họ đã chẳng phải làm tình nhân, mà đã là phu nhân, họ đã không phải trở thành bình hoa di động, mà có thể còn sưu tập được một đám đàn ông đẹp vây quanh làm đồ trang sức mới đúng.
Nếu nói rằng đó là phúc phận, thì hơi mê tín quá. Nhưng đàn bà có nhan sắc mà không có phúc phận, thì chỉ gặp nổi những người đàn ông cho bạn được mọi thứ trừ… cuộc đời anh ta. Thế nhưng, cái người đàn bà nắm được cả tiền lẫn cuộc đời của người đàn ông, có phải là người có phúc không?
Tôi nghĩ, có lẽ cũng không. Bởi chúng tôi tuy là gái văn phòng nghèo và không địa vị, nhưng vẫn kín đáo thương hại những phu nhân đại gia đeo nhẫn đính hột ngọc lớn trên tay, thảng hoặc chạy qua văn phòng tôi vào những buổi chiều công nợ. Họ có mọi thứ nhưng hình như họ thiếu một đôi thứ quan trọng nhất đời.
2.Tướng mạo có làm nên hạnh vận?
Cái điều làm tôi bỗng nhiên nhớ đến nhan sắc của người phụ nữ trong mắt một người đàn ông, là bởi sự liên tưởng bất ngờ:
Phải chăng chính người đàn ông đã nhìn thấy trong người đàn bà này cái đẹp hài hòa và quyền biến năng động của một người tay hòm chìa khóa, và nhìn thấy trong người đàn bà kia sức hút nổi bật và mãnh liệt của một tình nhân? Và vì thế, bằng ưu thế của giống đực, chính người đàn ông đã lựa chọn người phụ nữ làm vợ và người phụ nữ làm tình nhân, mà không phải ngược lại?
Phải đó là lý do mà chúng ta đã yêu một người này, sẽ cưới một người kia, và làm bạn tri âm với một người nào khác? Bởi thế nên, có nhiều người phụ nữ đã đồng ý làm vợ người đàn ông yêu cô tha thiết. Mà đàn ông thì ngược lại, đã yêu người phụ nữ nào làm anh ta có thể yêu, chứ không phải nhận lời một cô nàng si tình nào đang săn đuổi anh ta.
Việc nhận ra tố chất nội tại và phù hợp của một phu nhân trong một nhan sắc tầm thường chắc chắn khó hơn nhiều việc nhận ra một người đẹp nào đó mà đàn ông muốn có làm tình nhân. Bởi cái đẹp tình nhân hình như đã thể hiện ra ở bề ngoài, ở những dáng đi yểu điệu duyên dáng, ở những mắt đẹp tóc đẹp và dáng người mỹ miều. Hình như nhan sắc mất rất ít thời gian để chinh phục đàn ông, còn đàn ông lại mất không ít thời gian để lựa chọn được ra phu nhân của mình.
Hoặc đơn giản, người đàn ông nhìn thấy được năng lực của phụ nữ: Người này sẽ cai quản tốt lãnh địa cho chồng, vượng phu ích tử, sẽ chung thủy hầu hạ dạ vâng. Còn người kia có khả năng yêu nhưng chẳng bao giờ có khả năng làm vợ, tay hòm chìa khóa. Người đàn bà này phải giữ bằng hợp đồng hôn nhân, người đàn bà kia phải giữ bằng yêu.
Và vì thế, sự lựa chọn của một người đàn ông sẽ làm nên số phận một người đàn bà.
Tôi thấy sao chua chát quá.


Mười hai năm sau, tôi gặp lại một trong số những cô tình nhân – thư ký ngày đó, giờ đã là phó tổng giám đốc của một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong một khu công nghiệp ở ngoại thành TP.HCM. Chị không nhận ra tôi, tôi càng không nhắc rằng, tôi đã từng gặp chị thuở hàn vi. Chúng tôi chỉ nói chuyện phiếm trong bữa tiệc do Hiệp hội doanh nhân Đài Loan tổ chức mừng năm mới. Tôi khen chị đẹp quá, thật có dáng bà chủ, phu nhân, đàn bà trở thành đại gia như chị cũng không nhiều, nhất là đàn bà đẹp, bốn mươi rồi vẫn xinh đẹp trẻ trung hơn tuổi thật rất nhiều. Chị khiêm tốn nói, tôi may mắn gặp được những người đàn ông là đại gia thực sự. Từ những mối quan hệ kết giao ấy, mới gây dựng được sự nghiệp bây giờ. Nếu không nhờ vào quan hệ rộng rãi, cũng như bao nhiêu vất vả kinh doanh, làm ăn, thì tôi có xinh đẹp tới mấy rồi cũng sẽ kết thúc ở vai trò một bà nội trợ cho một ông đại gia nào đó, họ cho gì, mình có nấy, mà thôi.
Thì ra, vào cái thuở hàn vi, khi người khác ngưỡng mộ vị trí “tình nhân của đại gia” thì có lẽ, chính những cô tình nhân đã linh cảm được kết cuộc của thế thái nhân tình. May mắn thì chiếm được ghế phu nhân của đại gia, kém may mắn thì bị thay như thay áo, khi đã hết hấp dẫn. Và vì thế, cô tình nhân đã có những lựa chọn của riêng mình, tìm cách vươn tới một quyền lực khác thực sự của cô, trong lúc người khác tưởng cô đang ăn bám nhan sắc.
Hay nói một cách khác, chính sự lựa chọn của người phụ nữ đã làm nên số phận của cô ấy, chứ đâu hẳn chỉ bởi tướng mạo, nhan sắc, số phận?
Người đàn bà than thở sao mình luôn gặp tình trái ngang, ai biết về bản chất, đó là người đàn bà luôn lựa chọn yêu người đã có vợ?
Người đàn bà than sao mãi tình duyên lận đận, ai nhận ra đó là người đàn bà đã từ chối bao cơ hội yêu thương khác, mãi marathon một mình trên con đường tìm người đàn ông không tỳ vết?
Người đàn bà nào sinh ra đã có số làm vợ bé? Kể cả đàn ông có rắp tâm lừa chị đi nữa, thì khi nhận ra trớ trêu, sao không rũ áo ra đi tìm lấy thứ chính đáng thuộc về mình, mà lại cam chịu rồi than thở về kiếp chồng chung?
Sự lựa chọn của người phụ nữ mới là đấng toàn năng cho đời đàn bà, chẳng trách các cụ vẫn nói câu, đức năng thắng số. Hạnh vận của đời không thể biến không thành có, nếu người phụ nữ chẳng xắn tay áo lên lựa chọn, và mỗi lựa chọn ở khoảnh khắc quyết định sẽ dẫn cuộc đời ta đi về một tương lai khác nhau.
Có người đàn bà biết cách biến chồng thành đại gia, còn người đàn bà khác biết cách biến đại gia thành chồng. Cũng có người đàn bà biết cách tạo ra các triệu phú bằng cách kết hôn với các tỷ phú và sau đó, xài chồng như xài tiền.
Đó mới là sự trớ trêu của nhan sắc.
Trang Hạ

Tình Yêu Và Cafe..

           
Em đã từng đọc rất nhiều bài viết về cafe thực tế có lãng mạn cũng có ,người ta ví von cafe tương đồng với nhiều thứ trong cuộc đời .Em cũng không biết nữa bỡi cafe không phải thứ thức uống em yêu thích nên không quan tâm hay để ý lắm ,cho đến một hôm anh nói với em rằng : ''Ngày nào anh cũng uống cafe không dưới một lần nhất là buổi sáng thì không thể thiếu được'' .Thế là em viết entry này dành cho anh , người đàn ông cafe của em .

                  
                  Anh thích uống cafe pha Phin em biết rõ điều đó nhưng có bao giờ chính anh tự hỏi tại sao không ?Anh sẽ nói rằng dĩ nhiên là bởi vì nó nguyên chất mình có thể tự pha theo gu riêng và đo lường uống bao nhiêu .Tình yêu cũng đơn giản vậy thôi như cafe Phin chúng ta không thể thúc giục hay bắt ép nó nhanh hay chậm theo ý của mình , nếu muốn có một ly cafe ngon chỉ còn cách chờ đợi và cho thời gian .
                     Có những thứ tình cảm đắng chát , sặc mùi đau khổ đày đọa nhau họ có thể yêu cái tôi hoặc tính sỡ hữu qúa lớn  đây chính là loại cafe không đường  anh ạ, loại cafe này  rất ít người uống được và nó có thật sự ngon không thì chính người uống thấu hiểu rõ.Có người uống vì họ quen cái lạ có người uống vì muốn tạo cho sự chú ý nơi người khác và có người uống vì thấy người ta uống nên bắt chước thế thôi.
                         Cũng có những tình cảm người ta lao vào nhau như thể không có nhau họ không sống nổi , ồn ào náo nhiệt và một thời gian sau họ xa nhau nhanh chóng cũng giống khi họ đến và lắm lúc tự hỏi lẽ nào ta đã từng yêu hoặc sao mình có thể yêu người như vậy nhỉ ? Đây chính  là ly cafe được uống vội vàng như một cốc nước chẳng kịp biết mùi vị nó ra làm sao.Ngược lại với điều em vừa nói có người lại yêu để đó , yêu cho có với người ta và mắt vẩn liếc tìm xem có đối tượng nào tốt hơn không .Một thời điểm nào đó khi tình yêu thoát trào. Một là họ chia tay nhau  hay là gắng gượng với thứ tình cảm nhàn nhạt , không vui cũng chẳng buồn đây là ly cafe được uống qúa chậm đến nổi nó nguội  người thì bỏ đi người thì tiếc nên thôi gắng gượng uống . 
                             Cafe có thể hâm nóng anh à  tình yêu đó cũng có thể hâm bằng một đám cưới  , nhưng cafe hâm lại mùi vị dĩ nhiên không như nguyên thủy  và một cuộc hôn nhân không có tình yêu đủ mạnh thì hạnh phúc vẩn mãi là cái đèn treo trước gió.Đành rằng tình yêu phải hiện diện   lãng mạn ,hôm nay người ta có thể váy áo rực rỡ trong hôn lễ nhưng ngày mai người ta phải trút bộ cánh công chúa , hoàng tữ đó để trở về đời thật và đối đầu với cuộc sống hiện tại .Tựa ly cafe ngon là một ly cafe có lượng đường ngọt vừa đủ nếu qúa ngọt với những lãng mạn thì em tin chẳng thể uống nổi và như thế thì không còn là cafe nữa.
                                       
                        Tình yêu đến một cách tự nhiên và do tự chính mình tìm thấy chính mình pha chế vẩn là thứ tình yêu cafe ngon nhất .Còn những mối tình sắp đặt và đối phó theo dạng : ừ thì thấy người ta cũng tốt nên thì yêu trước tìm hiểu sau .Hoặc thôi mình cũng không gì nổi trội thì không dám mơ tưỡng cao xa người ngang ngang như mình là tốt nhất đây chính là cafe pha bằng máy mùi vị y chang nhau và hàng loạt , không tệ nhưng cũng không có gì lạ tựa vô số cuộc hôn nhân nhìn thì ổn đấy nhưng có bao giờ họ nghĩ họ từng dám cháy hết mình cho một tình yêu không và họ có yêu nhau thật không ? hay đó là thói quen và gắn bó với nhau bởi những hệ lụy khác để một ngày nào đó họ gặp một loại cafe thứ ba sẽ có điều gì xãy ra đây .Nhẹ thì '' say nắng '' nặng thì  uống trộm hoặc họ cố quay về ráng  uống tiếp ly cafe pha bằng máy với cái vị ngày càng nhạt.
                            Nếu ai cũng là những cậu ấm , cô chiêu sinh ra trong nhung lụa hoặc chàng là tổng giám đốc nàng là người đẹp mê hồn thì không có gì để nói ở đây, hẳn là sẽ  xuất hiện một dạng tình cảm trên phim ảnh bởi chính đó là cafe hoàn tan  3 in 1.Nhưng mấy ai dám nói là cafe đó ngon hơn cũng như ai dám bảo cuộc hôn nhân đó không đổ vở mà hình như em thấy tỉ lệ đổ vở còn cao hơn tựa như cái ngán khi thừa ngọt ngào của sữa và không phải mất nhiều thời gian pha người ta không thấy tiếc nuối khi từ bỏ .Nếu cho em chọn lựa em vẩn chọn cafe Phin  em thích con người ta cùng nhau đi qua nhiều thứ để hiểu và trân trọng những gì mình có hơn.
                   Có thể chúng mình khác xa nhau khá nhiều về môi trường sống , tính cách , công việc và vô số điều .Sẽ không ít lần em phải khóc vì chuyện của mình và cũng có vô số lần anh rũ người bạn thân đi nhậu và không ít lần em nhủ rằng không yêu anh nữa .Cũng như lắm khi anh nói cùng người bạn ngày mai không cần em nữa ,  rồi sáng hôm sau khi chúng ta bật máy điện thoại lên và nghe câu : I'm sorry ....từ đối phương của mình để hiểu rằng chúng ta tựa như đường và cafe khác biệt nhau nhưng chúng ta có dám hoà ra tan vào nhau không để tạo thành một thức uống ngon .Chúng ta có dám chấp nhận cái hay cái dỡ của nhau và có nghĩ sẽ bù khuyết cho nhau không?
                   
                      Anh đừng hỏi tình yêu với em ra sao và thế nào, thì anh cứ như pha ly cafe buổi sáng  , cho vừa đủ lượng cafe và nước , chờ đúng thời gian để cafe được ngon nhất bỏ đúng tỉ lệ đường phù hợp và uống nó một cái trân trọng thi vị  mà không phải là trãi nghiệm anh nhé ,chỉ thế thôi .
                        Em biết khi yêu người ta thường ích kỷ muốn người yêu luôn coi mình là người quan trọng em không cho mình là ngoại lệ nhưng em không bao giờ hỏi anh : Anh chọn em hay cafe .Bởi nhỡ anh chọn cafe thì rõ khổ , mà yêu ai là yêu cả cái người ta có phải không anh ?
                          Vậy thì ... này anh ... anh có thể yêu em như cafe không ? tức là không thể thiếu trong mỗi ngày .

Tìm đường trong bóng tối ..



Trong bóng tối tìm đường dễ hơn ngoài ánh sáng . Ban ngày nỗi hoài nghi giày vò bạn . Bạn hy vọng vào dấu chân của những người đã đi theo con đường này trước bạn, và bạn phân vân, do dự: "Có thật là con đường này khổng ? Có thật là nó không ?"
Nếu bạn muốn khẳng định mình, bạn hãy đi trong đêm và đừng mang ai theo cả . Có thể mất mọi thứ trong đêm, nhưng bạn sẽ tìm được mình ...
Nhưng liệu những người đã đi theo con đường này trước bạn có thông minh hơn bạn không? Bạn chẳng hiểu biết được điều đó . Bạn tin, bạn rất tin những dấu chân này, nhưng rồi sau vài cây số chúng bỗng quay ngoắt lại . Thì ra con đường này vẫn không dẫn đến đâu cả . Tìm đường ban ngày là nỗi bất hạnh của các ngã 3 ngã 4, là sự hoài nghi của các biển chỉ dẫn, là sự rã rời của các giọt mồ hôi đã rơi ...
Tìm đường ban đêm dễ hơn nhiều ... Tôi chỉ dựa vào đôi mắt của mình thôi - tôi chẳng còn gì ngoài bóng đêm đen tối . Ban ngày là kinh nghiệm của người khác, con đường là kinh nghiệm của người khác ... Trong đêm đen chỉ có mỗi kinh nghiệm va con đường của tôi tồn tại ...
Tôi tránh những cửa sổ lấp lánh ánh đèn . Nếu bạn đi giữa đêm, đừng nhìn những cửa sổ rực sáng . Chói mắt bỏi nó, bạn sẽ không nhìn thấy gì nữa đâu . Bạn sẽ như con chó đánh mất sự thính hơi . Tôi tránh những cửa sổ lấp lánh ánh sáng đèn, tôi rẽ sang lối khác .
Bóng tối như biển, càng bơi ra xa bạn càng cảm thấy rõ hơn sự bao la đó và càng thấm thía sự dũng cảm của chính bản thân bạn cũng lớn chừng nào !!!
Khi tôi xuyên qua bóng tôi, ý nghĩ này đôi khi tới với tôi: "Có thể tôi đang tỏa ra ánh sáng mà tôi không biết, có thể từ đằng xa ai đó đang trông thấy tôi và với anh ta, tôi tựa như con đom đóm nhỏ đang bay ... Và tôi tự thầm hỏi - liệu anh ta có nhìn thấy bên cạnh những bụi cây tôi đang vượt qua có con đường đã được người đi trước tạo nên ? Liệu anh ta có chế diễu tôi không ? Liệu anh ta có thấy cái hố tôi sẽ sa xuống hay cái rìa vực mong manh tôi đang cẩn thận nhón từng bước vượt qua ? Biết đâu chính anh ta đã đào cái hố này bẫy tổi ?
Ra thế đấy ! Tôi cảm thấy sức mình tăng lên gấp bội và tôi cười giễu cợt anh ta . Tôi, cái chấm nhỏ nhoi trong bóng tôi, ráng sức hit hơi, đốt đốt đèn mắt và từ từ đi qua ngay sát miệng hố . Không tôi không thể ngã xuống nó bởi chẳng ai tự khẳng định mình chắc hơn người đi trong đem tối .
Bóng tối là vitamin (liều thuốc bổ) của tôi ... Tôi hít thỏ nó như khí oxy và trong tôi nó cháy ...
Khi tôi đi trong bóng tối, tôi cảm thấy nó yêu tôi biết bao . Tôi tồn tại thực sự - cây thông đứng ở bên phải hay bên trái tôi , dòng nhựa vô hình trong bóng tối, tiếng rì rào rất khẽ của những quả thông ở tít trên cao, nơi những ngôi sao không ai thấy đang khẳng định điều đó, và thế là đủ lắm rồi . Cái cành cây làm xây xát má tôi cũng chỉ khẳng định thêm rằng tôi có ở trên đời; cái rễ cây tôi vấp ngã đã nhận ra tôi và chào tôi theo kiểu của chúng .
Nếu bạn muốn khẳng định mình, bạn hãy đi trong đêm và đừng mang ai theo cả . Có thể mất mọi thứ trong đêm, nhưng bạn sẽ tìm được mình ...
Đôi chân bạn luôn ở bên bạn, chúng thông minh và mau hiểu . Từ lâu rồi chúng đã biết thế nào là đá sỏi, bụi đường và cành cây khô gẫy . Đôi tay bạn luôn cùng bạn, hãy vươn chúng sang bên phải hay sang bên trái cũng được, tới cây Tùng kia, tới cây Sồi kia và bạn sẽ khẳng định mình. Đôi mắt bạn và đôi tai bạn luôn cùng bên bạn . Mặc cây liễu run như cầy sấy, cây Sồi dù Đông về vẫn không trút lá . Xung quanh bạn là bóng tối mêng mông vô tận . Bạn còn cần gì hơn nữa ?!

Khuôn mặt của sự tử tế..

 


Tôi có đọc đâu đó rằng, có ba điều người đàn ông tử tế không được phép làm: bất hiếu với bố mẹ, lừa dối người mình yêu và không thừa nhận con cái. Sự trung thực, với người đàn ông, chính là một trong những biểu hiện đó. Đối diện với những sự cố lớn của cuộc đời, người đàn ông sẽ bộc lộ tâm tính của mình rõ nhất. 

Steve Job có nói rằng, người thợ mộc tài hoa là người không bao giờ dùng miếng gỗ xấu làm mặt sau chiếc tủ của mình. Bởi có thể người khác không biết, nhưng chính bạn thì biết rất rõ điều đó… Sự thật do chính mình tạo nên, có lẽ hơn ai hết, chúng ta tự thấu hiểu. Cách biểu đạt sự thật ra sao với người đối diện là tuỳ vào cách chúng ta ứng xử. Nhưng mỗi cách ứng xử của chúng ta cũng thể hiện bản chất con người. Người thợ mộc tài hoa có thể có đủ cách lấp liếm để biện minh rằng, tấm gỗ ấy phù hợp với chiếc tủ ấy. Nhưng anh ta sẽ biết, nó có thực sự xứng đáng với một chiếc tủ đẹp hay không. Và người tử tế thì sẽ không chấp nhận điều đó, ngay từ khi ý định đó chưa hình thành.

Trong kịch “Trai đẹp lắm chiêu” ở sân khấu Thế giới trẻ, có một anh chàng lái taxi nói dối hoàn hảo, đến mức có hai cô vợ ở cách nhau hai dãy phố mà vẫn rất êm ấm. Anh ta lên lịch chăm sóc vợ cả, âu yếm vợ hai hoàn hảo. Cho đến một ngày anh ta vô tình bắt cướp trên đường phố và báo chí đưa tin. Từ đó, phần còn lại của vở kịch chỉ là cuộc trốn chạy và lấp liếm của chàng nói dối, với những tình huống cười ra nước mắt. Kịch bản hợp lý đến mức, ai cũng tin rằng, kẻ nói dối thì chẳng bao giờ có thể… sống sót, nhất là xung quanh anh ta toàn những người tử tế và thật thà…

Trong những bộ phim xã hội đen của Hồng Kông, những bộ phim dành cho giới bình dân với những câu chuyện tình – tiền – tù – tội có phần thảm khốc. Người ta luôn làm ra những mâu thuẫn triệt để rồi thanh trừng, báo thù, tạo nên những cảnh huống gay cấn và hồi hộp. Tôi vẫn nhớ rất rõ, hình ảnh những người đàn ông chính trực trong bộ phim ấy, dù có thể gặp những sự cố chết người nhưng với những gì là rường cột của cuộc sống, của lý tưởng sống, đó là gia đình, ông chủ và những đứa con, họ sẽ bảo vệ đến cùng!.

Người cha đi ra đường chém đối thủ hay thủ tiêu kẻ thù, nhưng sẽ cố gắng không cho con mình biết điều đó. Không phải đó là sự dối trá, mà cố gắng giữ cho con cuộc sống yên lành. Hay người đàn ông có thể bỏ trốn hay tháo chạy khỏi các cuộc đua, nhưng anh ta sẽ không bao giờ bỏ rơi người phụ nữ mình yêu. Và đặc biệt, dù chính hay tà, thì sự hiếu đễ với cha mẹ là điều mà các nhà làm phim đặc biệt đề cao. Đó tất nhiên chỉ là phim ảnh, nhưng nói theo cách khác thì phim ảnh chính là nơi thể hiện khát vọng của con người. Người ta luôn có niềm tin rằng, người đàn ông sẽ là trụ cột của một tổ chức hay trụ cột gia đình. Và khán giả sẽ phẫn nộ khi nhận ra rằng, người hùng mà họ đặt niềm tin hoá ra lại là kẻ hèn nhát và vô nhân.

Tôi từng gặp những người đàn ông (mà không biết có thực sự là đàn ông không) ngoài mặt toàn nói những điều tốt đẹp, nhưng khi đối tác vừa quay đi đã xọc thẳng một nhát dao sau lưng. Có những người rất trí thức, làm giám khảo nhiều cuộc thi, đã từng ngồi trước mặt tôi nói những lời khen ngợi hết lời, nhưng trong một đám gặp với người khác lại chê tôi không còn một lời nào xấu xa hơn thế. Một người đàn ông tử tế có lẽ không bao giờ làm những việc hạ lưu như thế. Và tuyệt đối không sống hai mặt. Và người đàn ông quan trọng nhất là phải giữ chữ tín của mình, không bao giờ dùng sự dối trá để hành nghề và ứng xử trong đời. Khi nghe được tất cả những điều đó, bị đâm sau lưng đến đau điếng, tôi chọn giải pháp im lặng. Xoá bỏ tất cả những điều đó ra khỏi cuộc sống của mình. Bởi nói như đức Phật, im lặng chính là cấp độ cao nhất cho sự phỉ báng.

Người đàn ông trung thực không có nghĩa là người đàn ông ngờ nghệch và ngô nghê. Sự trung thực không bao hàm nghĩa của sự ngu dốt. Trung thực là thước đo phẩm chất của một con người trong xã hội hiện đại. Và sự trung thực đó được thể hiện trong những việc làm cụ thể, ứng với những quy chuẩn chung của xã hội. Những kẻ láu cá có thể có được những thành công nhanh chóng, nhưng sự nghiệp lâu bền của một con người không thể đi tắt và cũng không thể xây dựng bằng những xảo ngôn.

Một trong những nguyên tắc để sống, là thành thật với mình và với người. Sự khôn ngoan của một con người, là làm sao dung hoà được những điều mình muốn và người muốn. Trong nguyên tắc kinh doanh mới, sự hợp tác không chỉ bao hàm ý nghĩa kẻ nào mạnh là kẻ chiến thắng mà còn có hàm nghĩa rằng, khi chúng ta hợp tác chúng ta cùng có lợi, cùng là những người chiến thắng. Mà không có sự hợp tác lâu bền nào dựa trên sự dối trá.

Có những người đàn ông nho nhã và luôn “chém gió” ngoài đường, nhưng ứng xử với người thân như người dưng nước lã, bạc bẽo với bạn bè và thường xuyên đè ép nhân viên, đồng nghiệp, vậy thì đó có phải là người đàn ông trung thực và tử tế? Sự tử tế phải bắt đầu từ gốc rễ cuộc sống, từ trong căn nhà của bạn, trong tổ ấm hay trong cả một lời nói với người lạ mà bạn bắt gặp trên đường.

Đôi khi chúng ta phải tỉnh thức để biết mình nên làm gì cho đúng với chính mình, để khỏi bị vướng vào những cái bẫy của những lời nói dối.

Hãy chọn con đường nào gần gụi, để sống thật và sống khoẻ…

Vì cuộc sống này đã quá bề bộn rồi…

Cô đơn và một mình - loneliness and aloneness..


Người ta có nên trước hết chấp nhận sự cô đơn riêng của mình trước khi đi vào mối quan hệ không? 

Có chứ, bạn phải chấp nhận sự cô đơn của bạn, nhiều tới mức sự cô đơn được biến đổi thành sự một mình. Chỉ thế thì bạn mới có khả năng đi vào trong mối quan hệ sâu sắc, giầu có. Chỉ thế thì bạn mới có khả năng đi vào trong tình yêu. Tôi ngụ ý gì khi tôi nói rằng người ta phải chấp nhận sự cô đơn của mình, nhiều tới mức nó trở thành sự một mình? 

Cô đơn là trạng thái tiêu cực của tâm trí. Một mình là tích cực, mặc cho điều các từ điển nói. Trong từ điển, cô đơn và một mình là đồng nghĩa - trong cuộc sống chúng không đồng nghĩa. Cô đơn là trạng thái của tâm trí khi bạn thường xuyên thiếu vắng người khác. Một mình là trạng thái của tâm trí khi bạn thường xuyên hân hoan trong bản thân mình. Cô đơn là khổ sở. Một mình là phúc lạc. Cô đơn bao giờ cũng lo nghĩ, thiếu cái gì đó, khao khát cái gì đó, ham muốn cái gì đó. Một mình là sự hoàn thành sâu sắc, không đi ra, cực kì mãn nguyện, hạnh phúc, lễ hội. Trong cô đơn bạn bị ngắt khỏi trung tâm. Trong một mình bạn được định tâm và bắt rễ. Một mình là đẹp. Nó có sự thanh lịch về nó, sự duyên dáng, bầu không khí cực kì thoả mãn. Cô đơn mang tính xin xỏ; tất cả quanh nó đều chỉ có xin xỏ và không cái gì khác. Nó không có duyên dáng về nó; thực tế nó là xấu. Cô đơn là sự phụ thuộc, một mình là cực kì độc lập. Người ta cảm thấy dường như người ta là toàn thể thế giới, toàn thể sự tồn tại. 
Bây giờ, nếu bạn đi vào trong mối quan hệ khi bạn đang cảm thấy cô đơn, thế thì bạn sẽ khai thác người khác. Người khác sẽ trở thành phương tiện để thoả mãn bạn. Bạn sẽ dùng người khác, và mọi người bực bội khi bị dùng bởi vì không ai ở đây để trở thành phương tiện cho bất kì ai khác. Mọi con người đều là mục đích cho bản thân mình. Không ai ở đây để được dùng như một vật, mọi người ở đây để được tôn thờ như vua. Không ai ở đây để hoàn thành sự trông đợi của bất kì ai khác, mọi người ở đây để chỉ là bản thân mình. Cho nên bất kì khi nào bạn đi vào trong bất kì mối quan hệ nào từ cô đơn, mối quan hệ đã trên đá rồi. Thậm chí trước khi nó bắt đầu, nó đã trên đá rồi. Ngay cả trước khi sinh, đứa trẻ đã chết rồi. Nó sẽ tạo ra nhiều khổ hơn cho bạn. Và hãy nhớ, khi bạn đi theo sự cô đơn của mình bạn sẽ rơi vào mối quan hệ với ai đó cũng cùng cảnh ngộ khổ sở, bởi vì người thực sự sống theo sự một mình của họ sẽ không được hấp dẫn tới bạn. Bạn sẽ ở quá thấp dưới họ. Họ nhiều nhất có thể thông cảm, nhưng không thể yêu bạn được. Người ở trên đỉnh của một mình chỉ có thể bị hấp dẫn tới người nào đó cũng một mình. Cho nên bất kì khi nào bạn hành động theo sự cô đơn của mình, bạn sẽ tìm thấy người có cùng kiểu; bạn sẽ tìm thấy sự phản xạ của riêng mình ở đâu đó. Hai người ăn xin sẽ gặp nhau, hai người khổ sở sẽ gặp nhau. Và hãy nhớ - khi hai người khổ sở gặp nhau, nó không chỉ đơn thuần là phép cộng, nó là phép nhân đấy. Họ tạo ra nhiều khổ sở cho nhau hơn là họ có thể đã tạo ra trong sự cô đơn của mình. 

Trước hết hãy trở thành một mình. Trước hết hãy bắt đầu tận hưởng bản thân mình, trước hết hãy yêu lấy bản thân mình. Trước hết hãy trở nên hạnh phúc đích thực tới mức nếu không ai tới cũng chẳng thành vấn đề gì. Bạn tràn đầy, tuôn chảy. Nếu không ai gõ cửa nhà bạn thì hoàn toàn được - bạn chẳng bỏ lỡ cái gì. Bạn không chờ đợi ai đó tới và gõ cửa. Bạn ở nhà - nếu ai đó tới, tốt, hay. Nếu không ai tới, điều đó nữa cũng hay và tốt. Thế rồi hãy đi vào trong mối quan hệ. Bây giờ bạn đi giống như người chủ, không như kẻ ăn xin. Bây giờ bạn đi giống như hoàng đế, không như kẻ ăn xin. 

Và người đã sống trong sự một mình của mình bao giờ cũng được hấp dẫn tới người khác, người cũng sống sự một mình của mình một cách đẹp đẽ, bởi vì cái giống nhau hấp dẫn cái giống nhau. Khi hai thầy gặp nhau - thầy của bản thể họ, của sự một mình của họ - hạnh phúc không chỉ được cộng vào, nó được nhân lên. Nó trở thành hiện tượng lễ hội vô cùng. Và họ không khai thác, họ chia sẻ. Họ không dùng nhau. Ngược lại, họ trở thành một và tận hưởng sự tồn tại bao quanh họ. 

Hai người cô đơn bao giờ cũng đối phó nhau, đương đầu với nhau. Hai người cùng nhau, người đã biết tới sự một mình, đang đối diện với cái gì đó cao hơn cả hai. Tôi bao giờ cũng nêu ra ví dụ này: hai người yêu bình thường, cả hai đều cô đơn, bao giờ cũng đối phó với nhau; hai người yêu thực, vào đêm trăng tròn, sẽ không đối phó nhau. Họ có thể cầm tay nhau, nhưng họ sẽ đối diện với trăng tròn trên trời. Họ sẽ không đối phó nhau, họ sẽ cùng nhau đối diện với cái gì đó khác. Thỉnh thoảng họ sẽ cùng nhau nghe bản giao hưởng của Mozart hay Beethoven hay Wagner. Thỉnh thoảng họ sẽ ngồi bên cạnh cây và tận hưởng vô biên việc được cây bao bọc họ. Thỉnh thoảng họ có thể ngồi bên cạnh thác đổ và nghe âm nhạc hoang sơ liên tục được tạo ra ở đó. Thỉnh thoảng, bên cạnh đại dương, họ cả hai sẽ cùng nhìn ra xa nhất mà tầm mắt có thể thấy được. Bất kì khi nào hai người cô đơn gặp nhau, họ nhìn vào nhau, bởi vì họ thường xuyên tìm cách thức và phương tiện để khai thác người kia - làm sao dùng người kia, làm sao hạnh phúc qua người kia. Nhưng hai người được mãn nguyện sâu sắc bên trong bản thân họ lại không cố gắng dùng lẫn nhau. Thay vì thế, họ trở thành bạn đồng hành; họ đi cùng chuyến hành hương. Mục đích là cao, mục đích là xa xăm. Mối quan tâm của họ gắn họ lại với nhau. 

Thông thường mối quan tâm chung là dục. Dục có thể gắn hai người lại một cách tạm thời và ngẫu nhiên, và rất hời hợt. Những người yêu thực có mối quan tâm chung lớn hơn. Không phải là sẽ không có dục; có thể có, nhưng như một phần của sự hài hoà cao hơn. Nghe giao hưởng của Mozart hay Beethoven, họ có thể tới gần nhau thế, gần thế, gần tới mức họ có thể làm tình với nhau, nhưng nó là trong sự hài hoà lớn hơn của giao hưởng Beethoven. Bản giao hưởng mới là điều thực; tình yêu xảy ra như một phần của nó. Và khi tình yêu xảy ra theo cách riêng của nó, không cầu xin, không suy nghĩ, đơn giản xảy ra như một phần của sự hài hoà cao hơn, nó có phẩm chất hoàn toàn khác cho nó. Nó là thiêng liêng, nó không còn mang tính người nữa. 

Từ hạnh phúc happy bắt nguồn từ từ Scandinavia, hap. Từ xảy ra happening cũng bắt nguồn từ cùng gốc. Hạnh phúc là cái xảy ra. Bạn không thể tạo ra nó được, bạn không thể chỉ huy nó được, bạn không thể ép buộc nó được. Nhiều nhất bạn có thể sẵn có cho nó. Bất kì khi nào nó xảy ra, thì nó xảy ra. 

Hai người yêu thực bao giờ cũng sẵn có nhưng không bao giờ nghĩ về - không bao giờ cố gắng tìm ra - hạnh phúc. Thế thì họ không bao giờ thất vọng, bởi vì bất kì khi nào nó xảy ra thì nó xảy ra. Họ tạo ra tình huống - thực tế, nếu bạn hạnh phúc với bản thân mình, bạn đã là tình huống đó rồi, và nếu người kia cũng hạnh phúc với bản thân mình, người đó cũng là tình huống rồi. Khi hai tình huống này lại gần nhau, một tình huống lớn hơn được tạo ra. Trong tình huống lớn hơn đó nhiều điều xảy ra - chẳng cái gì được làm. 
Con người phải không làm gì cả để hạnh phúc. Con người chỉ phải tuân theo và buông bỏ. 
Cho nên, câu hỏi là: "Người ta có nên trước hết chấp nhận sự cô đơn riêng của mình trước khi đi vào mối quan hệ không?" Có chứ - có, tuyệt đối đấy. Nó phải như vậy, bằng không thì bạn sẽ bị thất vọng, và nhân danh tình yêu bạn sẽ làm cái gì đó khác, cái không phải là tình yêu chút nào..

OSHO

Kén chồng..


Âu Nương vén mái tóc dài quá gót, ngữa mặt nhìn vầng trăng, rồi cúi đầu, thẫn thờ. Nàng chép miệng thở dài. Tiếng thở dài nghe như tiếng chim uyên gọi bạn, như tiếng nuốt nước bọt của cô gái chửa thèm chua, như tiếng lòng chinh phụ ngóng chồng, như tiếng đàn Kiều tìm Kim Trọng…Tiếng thở dài của nàng gọi thị nữ Ngọc Hoa đến. Ngọc Hoa chắp tay, cúi đầu khẽ bẩm :

- Dạ thưa ! Công chúa cần gì ở tiện nữ !
Quay lại nhìn, Âu Nương nói :
- Ngọc Hoa, em đó hả ? - Tiếng nàng run run – Em…Em có thể…giúp ta được không ?
Cung kính, Ngọc Hoa thưa :
- Dạ ! Em có thể giúp gì cho Công chúa ?
Vẫn gương mặt thẫn thờ, Âu Nương nói :
- Em biết đấy ! Vua cha bắt ta phải lấy chồng. Nhưng ta biết lấy ai bây giờ ? Em có cách gì giúp ta không ?
Ngọc Hoa vẫn lặng thinh. Âu Nương van nài :
- Em giúp ta đi ! Giúp ta đi !
Ngọc Hoa ngẫm nghĩ một lát rồi nói :
- Thưa Công chúa ! Theo em nghĩ đàn ông con trai thì không thiếu gì trong trời đất, nhưng phải chọn sao cho xứng, kẻo uổng tuổi xuân, kẻo uổng với cương vị.
Mừng rỡ, cầm tay Ngọc Hoa, Âu Nương nói :
- Em nói hợp ý ta lắm. Nhưng phải làm thế nào đây ?
Ngọc Hoa thầm thì bên tai Âu Nương. Mặt mày Âu Nương rạng rỡ lên…
*
* *
Tin Công chúa kén chồng lan truyền khắp chốn. Tiêu chuẩn làm chồng Công chúa yết thị mọi nơi. Đại loại tuổi tác từ 18 đến 70, không dị tật, không bệnh hoạn, đặc biệt phải là kẻ có học vấn và đạo đức mẫu mực.
Ngày hội kén chồng của Công chúa ầm ĩ, náo nhiệt. Đủ loại con trai đàn ông đến dự thí để đạt ngôi vị Phò mã.
Một bức tượng giống hệt Âu Nương được chưng bày giữa Ngọ môn để bàn dân thiên hạ chiêm ngưỡng nhan sắc có một không hai trên thế gian này.
Mọi người đến. Đàn ông có. Đàn bà có. Trẻ con và các cụ cũng có. Ai nấy đều trầm trồ :
- Thật là tuyệt thế giai nhân !
- Quả là chim sa cá lặn !
- Ồ ! Lá ngọc cành vàng !
Có kẻ thấy tượng nàng đã phách lạc hồn xiêu. Có kẻ đứng trân như người mất vía. Sắc đẹp của bức tượng đã cuốn hút mọi người. Ai cũng cảm thấy mình quả là vinh hạnh được nhìn thấy tượng Công chúa. Bọn đàn ông con trai, có kẻ nhìn thấu tận bên trong tượng. Có kẻ nhắm mắt mường tượng ôm tượng truy hoan. Ai cũng cho rằng chỉ có mình mới xứng là Phò mã. Mọi người chen lấn, tranh giành nhau trước cổng Ngọ môn.
Bên trong Ngọ môn có một căn phòng làm nơi kén chọn Phò mã. Âu Nương trực tiếp kén chọn.
Thời gian kén chọn là từ nửa đêm đến gà gáy sáng. Đèn đuốc sáng trưng cả khu hội. Trước cửa phòng, có bốn thị nữ cầm thương kiếm cung đao uy nghi, lẫm liệt.
Từng hồi chiêng trống vang lên là có người vào ứng thí…
Đêm này qua đêm khác. Từng hồi chiêng trống cứ vang lên. Nhưng chẳng có ai đạt ngôi vị Phò mã.
Âu Nương nằm trên giường. Như con gà mái đến thời cương trứng, nàng khoác bộ áo quần tơ nhện, đôi mắt thẫn thờ, thở dài chờ đợi từng hồi chiêng trống điểm.
Vẫn tơ nhện nhẹ che dáng ngọc, vẫn nằm chờ kẻ xứng lứa vừa đôi, nước mắt nàng ướt cả gối. Thấy vậy, Ngọc Hoa thưa :
- Bẩm Công chúa ! Tại sao Công chúa khóc ?
Âu Nương đứng lên. Cả thân thể nàng như thắp lửa. Nàng khóc to hơn :
- Không có ai là đàn ông con trai cả ! Tất cả là gỗ đá ! – Nàng đập ngực khóc kể tiếp - Đàn ông con trai mà thế à ? Đàn ông con trai mà lên giọng học vấn, đạo đức khi nhìn ta như thế này à ? Sao bọn họ không biết…Ôi ! Ước gì có tiếng gà trống gọi mái bên tai ta !...
Cơ thể nóng bừng, mềm nhũn, Âu Nương phịch xuống giường, khóc rấm rứt…
Phan Trang Hy

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

HƯ..



Theo những nhận định về nam châm, gã được biết :
- Khác cực thi hút nhau, đồng cực thì đẩy nhau. Âm với dương thì hút nhau và ngược lại cũng vậy. Còn dương với dương thì đẩy nhau và ngược lại cũng thế.
Trong lãnh vực con người, gã thấy chẳng khác bao nhiêu :
- Nam với nam thì nhiều khi đánh nhau phun cả máu đầu. Còn nam với nữ thì lôi cuốn lẫn nhau, quyện lẫn vào nhau, như tục ngữ đã diễn tả :
- Trai thấy gái lạ, như quạ thấy gà con.
Tuy nhiên, khi phe đờn bà con gái ngồi lại với nhau, thì thường hay nói xấu và dí mũi vào cánh đờn ông con trai. Và cánh đờn ông con trai, khi trà dư tửu hậu, cũng thường hay bới móc và…chõ mõm vào chuyện đờn bà con gái.
Trong một tiệc nhậu lai rai, khi các…”chiến hữu” bắt đầu tửu nhập ngôn xuất, một đấng mày râu đã lớn tiếng so sánh :
- Nếu so sánh con gái với con nai, ta thấy có những điểm khác nhau như sau :
Một là nai luôn ngơ ngác suốt cả đời, còn con gái thì chỉ ngơ ngác mỗi khi cần ngơ ngác.
Hai là nai không bao giờ giả nai cả, còn con gái thì nhiều lúc lại thích giả nai.
Ba là nai có sừng trên đầu, còn con gái thì có sừng trong ánh mắt.
Bốn là nai luôn ăn cỏ, còn con gái thì đôi lúc lại ăn cả thịt nai.
Năm là khi gặp tai nạn, nai biến thành khô nai, còn con gái thì biến thành…mít ướt.
Sáu là nai nhảy tưng tưng trong rừng, còn con gái thì nhảy tưng tưng trong…shop.
Một đấng tu mi khác đã so sanh sự giống nhau giữa đờn bà và con cọp như sau :
- Một là cọp thì gầm, đờn bà nhiều lúc cũng gầm.
Hai là cọp thì uyển chuyền, đờn bà đôi khi cũng uyển chuyển.
Ba là cọp thì được gọi bằng ông ba mươi, còn đờn bà lắm khi được gọi là…sư tử Hà Đông.
Bốn là cọp rất oai phong, còn đờn bà cũng rất lẫm liệt, chẳng thế mà người xưa đã bảo : nhất vợ nhì giời, lệnh ông không bằng cồng bà.
Năm là cọp rất quan tâm tới móng vuốt, còn đờn bà cũng rất quan tâm tới móng chân móng tay.
Sáu là cọp nổi tiếng về da, đờn bà cũng chăm chút về làn da cùng với áo quần của mình.
Bảy là cọp đôi khi chỉ vồ chứ không ăn, đờn bà đôi khi chỉ yêu mà không lấy.
(Báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 8 ra ngày 4.3.2007)
Giữa lúc bầu khí đang hồ hởi, thì bỗng anh chàng chiến hữu, sắp sửa đi vào tình trạng ngắc ngư con tàu đi, đã phát biểu một câu …xanh lè, khiến cho bàn dân thiên hạ ngẩn tò te :
- Còn tớ ấy hả, tớ vừa mới khám phá ra một chân lý, mới nghiệm một qui luật của muôn đời, đó là : Đờn ông, muốn hư thì phải có tiền, còn đờn bà, muốn có tiền thì phải…hư.
Câu nói trên đây đã làm cho gã đi từ chỗ ngẩn tò te, đến chỗ cúi đầu và suy gẫm.
Dĩ nhiên, câu nói này không hoàn toàn đúng “một chăm phần chăm đâu em ơi”, bởi vì nhiều ông có tiền, được liệt vào hàng đại gia, giàu nứt đố đổ vách mà đâu có hư, đồng thời cũng có nhiều bà đã kiếm được tiền bằng chính công sức, mô hôi, nước mắt của mình và họ cũng chẳng bao giờ hư đốn cả.
Tuy nhiên, câu nói trên cũng phản ảnh phần nào sự thật, nhất là sự thật về một hạng người nào đó trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay. Gã xin…bình loạn thêm về câu nói này.

TRƯỚC HẾT, ĐỜN ÔNG MUỐN HƯ, THÌ PHẢI CÓ TIỀN.

Kinh nghiệm cho gã thấy : khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, người ta dễ dàng đạo đức ăn ra, trái lại khi khó khăn đã qua đi và hoàn cảnh trở nên tươi sáng hơn, người ta trở về nếp sống cũ và lại khô khan nguội lạnh, nếu không muốn nói là còn xấu xa hơn trước nữa.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đờn ông con giai thì sợ phải đi tù và học tập cải tạo, còn đờn bà con gái thì sợ phải đi lấy thương phế binh…”Viêt Cộng”, thành thử người ta vội vã tới nhà thờ xưng tội rước lễ, như để dọn mình chết lành vậy, nhà thờ lúc nào cũng đầy ắp những người.
Sau đó, những sinh hoạt tôn giáo trong nước bị hạn chế tới múc tối đa : không còn các hội đoàn, không còn các chủng viện, việc đi lại của các linh mục tu sĩ từ nơi này tới nơi khác cũng khó khăn…Tuy nhiên, càng bị hạn chế, càng gặp nhiều khó khăn, thì dường như người ta lại càng sốt sắng hơn.
Còn bây giờ, chính sách của nhà nước phần nào thông thoáng và hoàn cảnh cũng sáng sủa hơn, người ta lao mình vào công ăn việc làm, người ta ra sức tìm tiền kiếm bạc và dầu tư mọi công sức cho vấn đề cơm áo gạo tiền và làm giàu đã trở thành nỗi ưu tư số một, hay cái lý tưởng sáng chói cần phải thực hiện. Tôn giáo và đạo đức bị tụt hạng, nếu không nói là đã bị một sô người…xếp xó.
Nước Mỹ, ngay sau biến cố 11.9 với tòa tháp đôi của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế bị sụp đổ tan tành, thì dường như chỗ nào cũng dấy lên một phong trào đạo đức : người ta thắp nến để cầu nguyện, người ta xác nhận lại niềm tin vào Thượng Đế, người ta tôn vinh những hành động can đảm của những người đã dám hy sinh mạng sống…Nhưng rồi những cảm tình đạo đức này dần dần bị chìm vào quên lãng, khi người ta thấy mình vẫn được sống trong bình an, đất nước mình vẫn liên tục phát triển và bọn khủng bố chưa dám tái xuất giang hồ, sờ đến gáy hay đá động tới quê hương mình.
Biến cố đau thương này, không phải chỉ là như viên sỏi nhỏ, nhưng là như một tảng đá lớn ném xuống mặt hồ, tạo được những chao đảo, những làn sóng trên làn nước vốn đã từ lâu êm ả. Tuy nhiên, dù sóng có to, thì cũng sẽ tới một lúc nào đó, tảng đá chìm xuống đáy nước và mặt hồ trở lại với tình trạng phẳng lặng và yên tĩnh của mình.
Cùng với nhận định này, gã xin đi xuống lãnh vực cá nhân và gia đình. Sách Cổ Học Tinh Hoa kể lại rằng :
Vua Cảnh Công có cô con gái yêu, muốn gả cho Án Tử. Một hôm nhà vua đến ăn tiệc tại nhà Án Tử, thấy vợ Án Tử bèn hỏi :
- Phu nhân đấy phải không ?
Án Tử thưa :
- Vâng, phải ạ.
Nhà vua nói :
- Ôi, phu nhân trông sao vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có đứa con gái trẻ đẹp muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao ?
Án Tử đứng dậy thưa rằng :
- Nội tử tôi nay thật già và xấu, nhưng lấy tôi và cùng tôi ăn ở đã lâu, kể từ lúc còn trẻ và đẹp. Xưa nay đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lúc đẹp lấy cốt để nhờ cậy lúc xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi mà tôi cũng đã nhận sự nhờ cậy ấy. Nay nhà vua tuy muốn ban ơn chắc cũng không nỡ để cho tôi ăn ở bội bạc với những điều nội tử tôi đã nhờ cậy bấy lâu nay.
Nói đoạn Án Tử lạy hai lạy, xin từ không lấy.
Đọc xong mẩu chuyện này, hẳn có nhiều người cho rằng : Án Tử sao mà khờ quá vậy, chẳng bù cho những con người thời nay.
Thực vậy, có anh chàng “Hai Lúa” được cha mẹ cho lên Saigon…du học. Trước khi khăn gói quả mướp lên đường, anh ta đã thề độc thề địa với người yêu bé bỏng của mình rằng :
- Nếu không lấy được em thì anh sẽ chết. Em ráng chờ đợi anh nhé.
Và trong đầu óc đơn sơ của anh chàng Hai Lúa này đã vẽ nên một cảnh tương huy hoàng như người xưa đã diễn tả :
- Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.
Nhưng rồi sau khi đã khều được mảnh bằng, anh chàng Hai Lúa năm nào đã trở thành dân Saigon chính hiệu con nai vàng. Vì cần phải có hộ khẩu ở thành phố, vì cần phải có ô dù che chắn trước sau, vì cần phải mở ra con đường tiến thân, vì cần phải bảo đảm cho công danh sự nghiệp…nên anh ta đã lấy một cô vợ mà nhà thì giàu, bố thì thế lực và quên béng mất cô gái miền quê năm xửa năm xưa. Thật đúng với lời bàn của tác giả Cổ Học Tinh Hoa :
“Ngán thay thói đời giàu hay quên bạn, sang hay phụ vợ. Lắm kẻ lúc còn hàn vi, vợ nuôi cho ăn đi học, một mai được chút tiền của, chức tước, đã phụ ngay vợ cũ mà kiếm vợ mới, hoặc kiếm vào chỗ giàu, chỗ sang hay người trẻ tuổi xinh đẹp hơn. Nhưng kẻ như thế dù viện lẽ gì, cũng chỉ là kẻ phụ bạc cả mà thôi”.
Nhiều ông chồng, khi còn là “bần cố nông”, khi còn nghèo túng, khố rách áo ôm, thì lại sống rất chung thủy và hạnh phúc với vợ với con, thiếu điều như ca dao đã từng diễn tả :
- Trên đồng cạn dưới đồng sâu,
 Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
- Râu tôm nấu với ruột bầu,
 Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.
Thế nhưng, khi đã có một địa vị với cái ghế ngồi khá vững chắc và nhất là khi đã có sẵn tiền trong tay, thì bỗng quay phắt 180 độ và bị…hư đi. Dĩ nhiên ở đây gã xin miễn bàn đến chuyện kiếm cho ra nhiều tiền, chẳng hạn như : làm ăn chân chỉ hạt bột, điêu ngoa xảo trá hay tham nhũng hối lộ…mà chỉ bàn tới việc tiêu tiền thế nào khiến cho mình chóng bị hư đi.
Nếu kiếm được tiền mang về nuôi vợ nuôi con, trang bị cho gia đình những tiện nghi thì chả cần phải nói. Nhưng đàng này thì khác, kiếm được tiền và chi cho những cuộc du hí riêng tư của mình, để rồi nhiều khi thân bại danh liệt và gia đình đổ vỡ tan hoang.
Kinh nghiệm cũng cho thấy : có tiền, người ta sẽ dễ dàng “rửng mỡ”, mà lao mình vào những cuộc chơi bời trác táng. Hay nói cách khác, muốn chơi bời thỏa thích thì phải có sẵn tiền trong túi.
Bình thường, sau một ngày lao động mệt mỏi hay căng thẳng, khi chiều xuông, bè bạn thường rủ nhau tới quán nhậu, làm một chầu để mở mang trí hóa, cũng như giải bớt cơn sầu. Chẳng thế mà các tụ điểm ăn nhậu, các nhà hàng cao cấp, các làng nướng cũng như các phố…chó, mọc lên như nấm ở Saigon và ở khắp nơi trên đất nước này,. Còn thức uống thì đủ loại từ rượu ta đến rượu tây, từ nước ngọt đến bia bọt, với các thứ nhãn hiệu trình tòa, từ đẳng cấp địa phương cho tới đảng cấp quốc tế, thôi thì…đủ cả. 
Tuy nhiên, nếu chỉ nhậu tăng một, thì dù có say một tí, cũng vẫn là chuyện thường ngày ở huyện. Thế nhưng, người ta lại tiếp tục tăng hai và ở tăng hai này, người ta nhậu ở đâu và nhậu như thế nào thì chỉ có ông trời mới biết được mà thôi. Cũng vì tăng hai ấy mà người ta phải chi ra không biết bao nhiêu tiền và cũng dễ bị hư đi.
Ngoài những người đã hư đi vì chuyện ăn uống, thì trong thực tế, còn có người hư đi vì chuyện hút sách. Khẩu hiệu được họ đưa ra, đó là :
- Có tiền làm tiên cũng được.
Nếu chỉ bắn thuốc lào, hay hút thuốc lá, thì vẫn là những chuyện thường ngày ở huyện, nhưng đàng này họ lại thích chơi những thứ hàng độc, như bạch phiến, xì ke ma túy… Họ muốn làm bạn với nàng tiên nâu và bản thân muốn được trở thành một…ông tiên, đi mây về gió. Giấc mơ phù du này đòi phải chi những số tiền lớn và cũng chóng kết thúc bằng sự hư đi.
Sau cùng, có tiền mua tiên cũng được. Một số người lại thích cầm tiền đi mua những…cô tiên qua những cuộc tình thầm lén và vụng trộm, những cuộc tình chớp nhoáng và…ngoài luồng, bằng cách chơi bời trác táng hay đèo bòng bồ nhí.
Có những ông gìa đang bước vào cảnh hoàng hôn của cuộc đời, thế mà vẫn cứ anh dũng bỏ vợ trốn con, bỏ tiền ra xây tổ ấm và trang bị những tiện nghi hiện đại cho cô bồ nhí trẻ măng của mình, để rồi nhiều lúc đã phải chịu nỗi đắng cay như ngậm bồ hòn trong miệng :
- Bắc thang lên hỏi ông trời,
 Mang tiền cho gái, có đòi được không ?
Có những ông ở nước ngoài về, đã lợi dụng cái “mác” việt kiều, cũng như cái ưu thế của đồng đô la, để rồi chơi bời vung vít và mua đứt không những một, mà có khi cả hai ba cô gái trong nước làm vợ…hờ. Vừa đỡ tốn kém, vừa được cưng chiều, lại vừa bảo đảm an toàn giữa thời buổi căn bệnh HIV bùng nổ như một cơn ác mộng.
Từ những sự việc kể trên, gã có thể kết luận : Đờn ông muốn hư thì phải có tiền. Chứ nghèo rớt mồng tơi thì làm sao dám bước chân vào những nhà hàng cao cấp, những chốn chơi bời du hí và dù có nằm mơ thì cũng chẳng thấy được những người đẹp…chân dài.

TIẾP ĐẾN, ĐỜN BÀ MUỐN CÓ TIỀN, THÌ PHẢI HƯ.

Sống trên đời, ai mà chẳng muốn có được nhiều tiền. Nhưng để thực hiện ước muốn…hoành tráng này, nhiều người đã cố gắng phấn đấu để vươn lên. Và họ trở thành những người tốt lành, cũng như đã giúp ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, cũng có những kẻ đã rơi tõm xuống vực thẳm tội lỗi và đã hư đi. Ở đây, gã chỉ xin bàn đến phe đờn bà con gái đã hư đi vì muốn có nhiều tiền một cách dễ dàng mà thôi. Gã xin tạm chia thành hai loại.

Loại thứ nhất là vì hoàn cảnh.

Họ có thể là những cô gái nông thôn, muốn thoát khỏi cảnh nghèo túng của miền quê bằng cách lên thành phố tìm việc làm, vừa để đổi đời, vừa để kiếm tiền giúp đỡ gia đình, nhưng rồi bị lừa gạt. Lúc đầu chỉ là phụ giúp bán cà phê, rồi bị ép bán cà phê ôm và sau cùng là bán tất cả cái vốn mình tự có.
Họ có thể là những sinh viên nghèo, nhưng lại muốn theo đuổi việc học, vì thế ngoài những giờ đến trường hay lên lớp, họ phải tìm việc làm để kiếm thêm chút tiền còm, bù lỗ cho những chi phí của mình.
Những việc làm thêm này, chẳng hạn như dạy kèm cho trẻ, bán hàng tại cửa tiệm, rửa chén bát cho các nhà hàng…lắm lúc thật vất vả mà lương bổng, thù lao lại chẳng bao nhiêu.
Vì thế, có những cô đã vào làm trong quán cà phê đèn mờ, những vũ trường hay cam phận với kiếp sống tầm gửi, làm vợ hờ, làm bồ nhi…Sở dĩ như vậy, vì những dịch vụ này thu nhập vừa cao, lại vừa nhàn hạ. Và rồi từ đó bị trượt chân, như viên bi lăn mãi lăn hoài cho tới tận cùng con dốc mới thôi. Gã xin đưa ra một vài chứng từ sống động cho vấn đề này.
Để có tiền trang trải cho chuyện ăn, chuyện ở và chuyện học, Hằng quyết định làm thêm công việc tiếp thị bia vào ban đêm tại một quán nhậu. Vơi thân hình khá bắt mắt của một cô gái đương thì, cộng với tính tình nhanh nhẹn vui vẻ, Hằng nhanh chóng được lòng rất nhiều anh lẫn…”ông” nhậu lui tới quán.
Trong số những khách hàng thường xuyên uống bia ủng hộ cô, có Khánh, một dược sĩ 32 tuổi, chủ nhân tiệm thuốc tây tọa lạc gần nơi Hằng tiếp thị bán bia mỗi đêm. Sau vài lần gặp gỡ, trò chuyện, Hằng bằng lòng cho chàng dược sĩ này đưa đón, đi ăn uống và về nhà trọ khi hết giờ làm việc ở quán nhậu.
Chỉ sau một tháng đưa đón, Hằng đã sẵn sàng ngã vào vòng tay của chàng dược sĩ, mà cô nghĩ có thể bao bọc được cho mình trong những tháng ngày ăn học khó khăn. Đúng như Hằng nghĩ, để tiện bề lui tới, Khánh thuê hẳn cho Hằng một căn nhà nhỏ trong hẻm…
Tuy nhiên, sự cung phụng của Khánh dành cho Hằng chỉ được một năm thì người thứ ba xuất hiện. Đó là một ông nhà thầu xây dựng, cũng là bạn nhậu của Khánh. Ông nhà thầu 42 tuổi này đã có vợ con đề huề. Sau vài lần gặp Hằng, ông đâm ra “kết” cô.
Sau đó không lâu, đã diễn ra một thỏa thuận rành mạch giữa ba người : Ông nhà thầu bỏ tiền ra cho Hằng mướn nhà trọ và ăn học. Anh chàng dược sĩ cung phụng cho cô mua sắm. Phần cô sinh viên Hằng tự chia lịch : 2-4-6 dành “tiếp ông thầu”, còn 3-7-5 thì” đi chơi” cùng anh dược sĩ. Chủ nhật là ngày cô được tự do…(Báo Phụ nữ Chủ nhật, số 7 ra ngày 19.2.2006).

Loại thứ hai là vì đua đòi

Có những cô gái, đua đòi cách ăn chơi của bè bạn, chạy theo những mốt áo quần hàng hiệu, theo kiểu bóc ngắn cắn dài, vung tay quá trán, con nhà lính tính nhà quan…vì thiếu tiền chi ra, nên sẵn sàng chấp nhận thân phận làm bồ nhí, làm gái bao…
Thanh xuất thân trong một gia đình khá giả. Thi đậu đại học. Bất chấp lời khuyên của những người thân, Thanh dọn ra ở riêng trong một căn phòng cho thuê khá tiện nghi. Không có sự kiểm soát của người thân, Thanh tự do bay nhảy, đàn đúm.
Để có tiền ăn chơi, thanh không ngần ngại cặp bồ với nhiều người đàn ông lớn tuổi nhưng có tiền. Trong số các “đại gia” ấy, Thanh chọn ông Phát đã có vợ con, nhưng lại là ông chủ cửa hàng kinh doanh xe gắn máy làm “bến đậu lâu dài” vì mọi chi phí thuê nhà, sắm sửa đều được ông Phát chu cấp hậu hĩ. (Báo Phụ nữ Chủ nhật, số 7, ra ngày 19.2.2006).
Có những cô gái khác vì cám dỗ của đồng tiền, hay vì một cuộc sống buông thả, sẵn sàng đánh đổi cả thân xác và không ngần ngại kinh doanh bằng cái vốn tự có, bằng cái vẻ tươi mát trời cho.
Lúc ban đầu, có thể chỉ lâu mới nhảy dù, tiếp khách một lần để có phương tiện tiếp tục nếp sống chơi bời quậy phá của mình. Nhưng rồi thấy việc kiếm tiền bằng phương cách này quá dễ dàng, nên bỗng trở thành chuyên nghiệp lúc nào không hay.
Và khi hàng đã quá đát, thì chỉ còn nước đứng ra ngoài vỉa hè và trở thành một loại bướm đêm, mà thiên hạ vốn thường thấy bay lượn dọc theo những quãng đường vắng hay tại những công viên, khi thành phố đã lên đèn.
Và cuối cùng, đờn ông cũng như đờn bà, tất cả đều phải cúi đầu lãnh nhận một kết thúc đáng buồn !!!

Osho, ông là ai?







(Vài nét về cuộc đời và tư tưởng của Osho)
“Một số đến với ông vì tính cách nổi loạn như ông nhưng một cái khác thì họ không có, một số khác vì tò mò, vì thất bại, vì ưu phiền cá nhân. Dĩ nhiên, nếu thảng có ai trong số đó đã đạt giác ngộ như ông thì điều đó chúng ta không bao giờ biết. Chỉ Osho mới biết mình thành công hay thất bại, nhưng ông lại không màng đến nó. Ông chỉ thấy phải nói phải làm những cái đáng nói đáng làm“
(VMmagazine trích dẫn)
***Osho (1931-1990) là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi.

Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Khoảng trong thập kỷ 70 người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho. Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền. Tác phẩm bạn đọc đang cầm trên tay, Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra, kể lại cuộc đời lạ lùng và quan niệm của ông về nhiều vấn đề, thế tục cũng như tâm linh.

Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương Đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư. Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hoá cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. Nhưng có lẽ điều này nằm trong ý đồ đích thực của một con người “nổi loạn” như ông.

Nhân cách của Osho có một sức thu hút mãnh liệt, nó biểu hiện trong những bài luận giải xuất chúng của ông về mọi vấn đề tôn giáo và triết học, kể cả về các bộ kinh lâu đời nhất mà nhiều vị luận sư đã dày công trình bày. Những ai đã gặp ông đều thừa nhận Osho có một tài hùng biện đầy ma lực, một sự hấp dẫn cá nhân mà người nghe hầu như không thể cưỡng lại. Song song với những công trình luận giải vĩ đại đó thì tập thể quần chúng và đệ tử do ông hướng dẫn lại gây nên rất nhiều tai tiếng, thậm chí có kẻ trở thành tội phạm.

Sự thật về con người Osho nằm ở đâu? Thiết nghĩ khó có ai trả lời được và điều này có thể cũng lại nằm trong chủ đích của chính ông. Chính ông cũng nói về triết học của mình là một thứ triết học phi triết học (philosophy of no philosophy). Tuy thế, một khi độc giả đã cầm quyển sách này trong tay, một lời dẫn nhập ngắn nhằm giới thiệu con người và quan niệm của Osho có lẽ sẽ giúp độc giả hiểu được một phần con người kỳ dị này của thế kỷ trước. Đó là mục đích của bài này.



Trước hết, trong những năm 60, Osho là giáo sư triết học tại đại học Jabalpur, Ấn Độ. Về bản thể luận, ông là người có một quan niệmNhất thể (Monism) về vũ trụ. Đối với ông, Thượng đế nằm trong mọi vật, nằm trong mọi con người. Không hề có sự phân biệt nào giữa “Thượng đế” và “phi Thượng đế”. Toàn thể mọi con người, dù là người tồi tệ nhất, đều thiêng liêng cả. Mọi dạng xuất hiện của một thứ năng lượng mang tên là “Thượng đế” đối với ông đều đáng ngưỡng mộ và điều này sẽ thể hiện trong quan niệm hành trì mà ông muốn truyền bá.

Đối với đời người, Osho cho rằng giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh (spiritual enlightenment). Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội. Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế. Ông quan niệm rằng, muốn trở lại trạng thái hồn nhiên và an lạc, con người phải tự mình giải thoát khỏi sợ hãi và ức chế.

Với nhận thức này, Osho hoàn toàn nằm trọn vẹn trong truyền thống của triết học Ấn Độ, nhất là trong Đại thừa Phật giáo. Nếu nhớ đến tư tưởng của Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận, hay Thiền ngữ “Tâm bình thường là đạo” của Nam Tuyền, hay các phép hành trì của Phật giáo Tây Tạng, hay tư tưởng của các vị đạo sư của thời hiện đại như Aurobindo hoặc Krishnamurti, ta dễ dàng thấy sự trùng hợp tuyệt đối về nhận thức luận giữa ông và các truyền thống đó. Chỉ có điều khác biệt là, Osho nói về các nhận thức này một cách hùng biện và mới mẻ. Nhất là với tính cách của một giáo sư triết học, trong các luận giải, ông phối hợp một cách tài tình những truyền thống của Phật giáo, Kỳ-na giáo (Jainism), Ấn Độ giáo, Lão giáo, Cơ-đốc giáo, Sufism (một truyền thống của Hồi giáo), và triết học cổ của Hy Lạp. Thế nhưng, cũng như mọi nhà đạo học khác, ông không quên chỉ rõ, không một nền triết học nào có thể diễn bày được chân lý, có thể thay thế được sự chứng thực cá nhân.



Do đó sự trải nghiệm, sự chứng thực của trạng thái giác ngộ là cốt tuỷ của mọi sự. Ông tự nhận mình đã đạt trạng thái này năm 21 tuổi. Phương pháp khả dĩ đưa đến giác ngộ là phép thiền định. Nhưng thiền định là gì và hành trì thiền định như thế nào? Theo Osho thiền định là một trạng thái “nằm ngoài tâm”. Thiền định không phải là sự tập trung. Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý về thiền định có thể ví như to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân sự lặng yên. Đó là một tình trạng có thể xảy ra bất chợt, một tình trạng mà ta có thể ở trong đó, chứ không phải là một sản phẩm do ta tạo ra. Quan niệm này về thiền của Osho không hề khác với các phát biểu xưa nay của các vị Thiền sư của miền Đông Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nhưng cách hành trì thiền định do Osho đề ra thì khác hẳn.

Osho cho rằng con người hiện đại, nhất là người phương Tây rất khó áp dụng phép toạ thiền, tìm sự an tĩnh và ngưng bặt tư tưởng bằng cách ngồi yên. Vì thế ông đề xuất những phép thiền tích cực (Active Meditation) và cho rằng những phép hành trì của thiền tích cực sẽ đưa con người vào trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Nội dung của các phép thiền tích cực này là cho phép con người rũ bỏ những gì ức chế mình bằng cách để cho chúng được thể hiện một cách tự nhiên. Trong các phép thiền tích cực do Osho đề ra, ta có thể kể phép thiền năng động (Dynamic Meditation), thiền Kundalini, Nadabrahma, Natajai, trong đó phép thiền năng động được chú ý nhiều nhất. Trong phép thiền năng động, thường thường thiền sinh bắt đầu với những hoạt động mạnh mẽ về thể chất, sau đó là sự lặng yên và cử hành tế lễ. Phép thiền này tin rằng, qua đó con người sẽ vượt thắng sự sợ hãi, giảm bỏ sự ức chế, phát sinh được một dạng của Không tính (state of emptiness) và đạt giác ngộ. Đối với Osho, muốn đối trị sự ức chế nào ta phải kích động nó lên, nếm trải, chứng nghiệm nó và cuối cùng trực nhận nó chỉ là “không” thì mới thực sự siêu việt được nó. Theo ông một con người giác ngộ sẽ là “phi quá khứ, phi tương lai, không ràng buộc, không tâm thức, vô ngã, vô bản chất”.

Đó là những nét cơ bản về quan niệm của Osho về phép hành thiền. Thật ra thì phương pháp chủ động kích thích dục vọng của con người lên để chứng nghiệm, quán chiếu và siêu việt chúng không phải là một điều gì mới lạ. Trong truyền thống Ấn Độ, người ta vẫn còn nhắc đến 84 vị Đại Thành tựu giả (Mahasiddha), các vị được xem là sống trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 12 sau công nguyên [1] . Đó là các vị hành giả lòng còn chất chứa đầy các loại dục vọng khác nhau, nhưng nhờ biết cách quán chiếu chúng, biết chúng chẳng qua đều là những dạng của Không tính mà đạt được thành tựu. Đọc tiểu sử các vị đó, ta sẽ thấy đó toàn là những người mang đầy thói hư tật xấu, thậm chí có kẻ là người chuyên đánh bạc hay ăn trộm, nhất là có rất nhiều vị đam mê tình dục. Thế nhưng, nhờ một cách hành trì thiền định, trong đó họ quán tưởng “đối tượng đam mê” và “người đam mê” đều chỉ là những dạng của “Không”, họ đạt giác ngộ ngay trong đời này. Các vị đó là những người tiên phong của một truyền thống được mệnh danh là Kim cương thừa. Trong thời đại gần đây hơn, các vị tu sĩ trong truyền thống Kim cương thừa của Tây Tạng cũng là những người chủ trương “chuyển hoá” năng lực của dục vọng thành động lực của sự giác ngộ. Thậm chí trong nền phân tâm học hiện đại của phương Tây người ta cũng biết đến phép chữa bệnh Gestalt Therapy, trong đó bệnh nhân được khuyến khích hãy sống thực với nền tảng tâm lý của mình, hãy tận lực khóc cười hay la hét với những ức chế của mình với mục đích giải thoát ra khỏi sự đè nén của chúng.

Dĩ nhiên phương pháp của Osho có một tầm cỡ hoàn toàn khác so với phép chữa bệnh tâm lý nói trên, vì ở đây nó có tính chất tôn giáo cao độ. Còn so với các truyền thống xưa thì điều kỳ lạ là ông dám đem ra áp dụng cho quảng đại quần chúng. Ở đây ta dễ dàng đoán biết điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi con người bình thường được khuyến khích chủ động cho những ức chế của mình được vận hành thì một năng lực thuộc về bản năng sẽ vùng dậy, đó là tình dục.

Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, khoảng cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề Từ tình dục đến ý thức siêu việt (From Sex to Superconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”. Quả thực, trong phong trào của ông, môn đệ của ông thực hành lời dạy này một cách đầy hoan lạc. Liệu hành động của họ là “đích thực và đầy ý thức” như ông giảng giải, là một vấn đề khác. Thật ra phần nói về tình dục chỉ là phần nhỏ trong cuộc đời thuyết giảng của ông nhưng kể từ đó người ta gọi ông là “đạo sư tình dục” (sex-guru) và gọi chủ trương của ông là “tự do tình dục”.

Trên quan niệm đạo học phương Đông, tình dục là một dạng vận hành của năng lượng. Năng lượng hàm chứa trong con người biểu hiện dưới nhiều dạng của ái dục mà dạng ái dục quan trọng nhất là hữu ái(bhavatrsna), tức là sự khao khát được tồn tại. Trong sự khao khát đó thì tình dục là dạng ái dục cụ thể nhất, mang nặng tính vật chất nhất. Tình dục do đó là bản năng cơ bản nhất của mọi loài, nó không dính líu gì đến các giá trị do xã hội loài người đặt ra như thiện-ác, xấu-tốt, phải-trái. Sở dĩ tình dục hay bị lên án là vì mọi hoạt động xuất phát từ nó thường sinh ra những hậu quả phiền toái cho đời sống xã hội của con người. Cũng chính vì thế mà con người thường bị ức chế về tình dục, tuy luôn luôn nhớ nghĩ về nó nhưng cũng luôn luôn phải đè nén nó. Do đó tình dục là một trong những ức chế lớn nhất của con người, thật ra là ức chế chủ yếu của đời làm người. Nền tâm lý học phương Tây cũng đã có những phát hiện tương tự.

Vì vậy khi Osho chủ trương con đường giải thoát là phải đối diện, nếm trải mọi năng lực bị ức chế để có thể siêu việt và chuyển hoá chúng, thật ra ông không thể không nói đến tình dục, nếu ông thật sự nhất quán với chính mình. Và thực ra mỗi kẻ tầm đạo, một khi đã đi vào con đường tích cực và chuyển hoá, cũng phải tìm cho mình một phương thức riêng để chuyển hoá năng lực của tình dục. Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim cương thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.

Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim cương thừa trong thế kỷ 20 tại phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim cương thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng. Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng đế cả, không có gì là không thiêng liêng.

Chúng ta sẽ không ngạc nhiên về câu trả lời của một người được mệnh danh là “nổi loạn” như ông, nhưng những gì ông hứng chịu trong cuối đời do chính đệ tử của ông gây ra cho thấy nhiều học trò của ông xem ra không hề “thiêng liêng” gì cả. Phần lớn môn đệ của ông tìm đến vì tò mò, không ít người phản bội ông, làm giàu trên lòng tin ngây thơ của người khác. Trong quá khứ người ta cũng chỉ biết vỏn vẹn có 84 vị Thành tựu giả trong số hàng triệu người tu học tại Ấn Độ thì tại sao ngày nay lại có thể khác. Hơn thế nữa, con người của thời đại này lại càng vô cùng khó khăn hơn nữa khi muốn chuyển hoá một năng lực gắn liền với thân vật chất để thăng hoa, tiến gần với cái thiêng liêng. Thời đại này là kỷ nguyên của chủ nghĩa duy vật, những người tưởng như muốn tìm đến cái thiêng liêng thực chất cũng là môn đệ của chủ nghĩa duy vật tâm linh (spiritual materialism) như Chogyam Trungpa đã nói. Thời nào cũng thế, con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy, chỉ tìm những gì họ khao khát. Vì thế khi ông đã lỡ nổi danh là một “sex-guru”, ta có thể đoán biết thành phần và mục đích của những người hướng về ông. Quả thực sau khi ông mất, không có ai đủ sức trình bày một bài thuyết giảng cho xứng đáng là người đã từng theo học với ông.

Ông mất đi trong sự tan rã của phong trào theo học giáo phái Osho, nhưng có lẽ một con người như ông không có gì để tiếc nuối vì như ông nói, ông “chỉ là một đám mây”, đến chơi với trần thế trong một thời gian ngắn ngủi. Thế nhưng, hơn 15 năm sau ngày ông mất, người ta vẫn tìm đọc Osho vì trong sách báo của ông để lại, quả thực có một điều gì có giá trị nội tại, quả thật đây là những lời nói của một con người phi thường. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy phương pháp thiền định của ông không phải dành cho tất cả mọi người. Nếu xét Kim cương thừa và những vị tu sĩ cao cấp đã tu luyện theo phép này, người ta phát hiện lại một câu nói giản đơn của một người hẳn đã biết mức độ chọn lọc đối với người hành giả có thể theo học phép tu này. “Chỉ những ai đã xả bỏ tâm phân biệt, những ai mà đối với họ một đĩa thực phẩm sang trọng và một đĩa phân là như nhau, thì kẻ đó mới được theo học Kim cương thừa”. Đó là lời của Đạt-lai Lạt-ma thứ V (1617-1682). Các đệ tử của Osho không hề là những người như thế. Một số đến với ông vì tính cách nổi loạn như ông nhưng một cái khác thì họ không có, một số khác vì tò mò, vì thất bại, vì ưu phiền cá nhân. Dĩ nhiên, nếu thảng có ai trong số đó đã đạt giác ngộ như ông thì điều đó chúng ta không bao giờ biết.

Chỉ Osho mới biết mình thành công hay thất bại, nhưng ông lại không màng đến nó. Ông chỉ thấy phải nói phải làm những cái đáng nói đáng làm. Nếu đọc cuốn sách này, ta sẽ biết tính khí của ông và đoán có thể tất cả đều nằm trong chủ đích của ông. Có thể ông đã thấy rõ đời mình phải làm ầm ĩ lên như một người điên thì mọi người mới chịu chú ý nghe những gì mình nói, nếu không tất cả sẽ chìm trong quên lãng trong một thế giới quá nhiều thông tin. .
Về từ nguyên, osho là một từ cổ Nhật Bản, theo nghĩa tiếng Nhật Bản là “Hoà Thượng”, như chúng ta vẫn dùng từ này khi chỉ các nhà sư Phật giáo, mang ngụ ý “Người Hoà hợp với Thượng giới” hay nói cách khác là hoà hợp với toàn thể sự tồn tại.
Một nghĩa khác nữa của từ osho này là “tính đại dương” như đã được Willaim James nêu lên. Cái tên Osho đã được bậc thầy tâm linh Bhagwan Shree Raijneesh (1931-1990) người Ấn Độ, chọn làm tên hiệu chính thức cho mình và đã trở thành nổi tiếng trên toàn thế giới.)